Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Vào lúc 14 giờ 45 phút (giờ Việt Nam, tức 10 giờ 45 phút giờ Abu Dhabi) ngày 1 tháng 10 năm 2009, nghệ thuật Ca trù của Việt Nam đã chính thức được UNESCO ghi danh vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp. Sự kiện này đánh dấu sự trở lại và ghi nhận quốc tế đối với một loại hình nghệ thuật diễn xướng truyền thống đặc sắc sau nhiều thập kỷ bị gián đoạn và đối mặt với nguy cơ mai một.

Tại thành phố Hải Phòng, nghệ thuật Ca trù có lịch sử phát triển lâu đời, trong đó làng Đông Môn thuộc xã Hòa Bình, huyện Thủy Nguyên được xác định là nơi khởi nguyên của nghệ thuật hát Ca trù trên địa bàn thành phố. Mặc dù địa phương vẫn duy trì Hội hát Ca trù truyền thống vào ngày 23 và 24 tháng 9 âm lịch hằng năm, hoạt động thực hành nghệ thuật nơi đây vẫn đứng trước nguy cơ thất truyền do sự thiếu hụt thế hệ kế cận và các điều kiện bảo tồn còn hạn chế. Nhằm góp phần bảo tồn di sản văn hóa truyền thống gắn với phát triển kinh tế - xã hội địa phương, đề tài khóa luận “Tìm hiểu nghệ thuật Ca trù Đông Môn - Thủy Nguyên - Hải Phòng và định hướng khai thác trong du lịch” được thực hiện.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài bao gồm:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận và tổng quan về nghệ thuật Ca trù của Việt Nam, làm rõ các giá trị lịch sử và đặc trưng nghệ thuật truyền thống.
  2. Tìm hiểu, khảo sát nguồn gốc, quá trình hình thành và những nét đặc sắc của nghệ thuật Ca trù tại làng Đông Môn, xã Hòa Bình, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
  3. Xem xét, đánh giá thực trạng bảo tồn và hoạt động thực hành Ca trù Đông Môn trong đời sống xã hội những năm gần đây.
  4. Đề xuất các định hướng và nhóm giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả bảo tồn, phục dựng và khai thác giá trị nghệ thuật Ca trù Đông Môn phục vụ phát triển du lịch Hải Phòng.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là nghệ thuật Ca trù làng Đông Môn dưới góc độ di sản văn hóa phi vật thể và khả năng chuyển hóa thành sản phẩm du lịch đặc thù. Phạm vi không gian tập trung tại địa bàn làng Đông Môn (xã Hòa Bình, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng), đặt trong mối liên hệ với các trung tâm ca trù tiêu biểu ở khu vực Bắc Bộ. Phạm vi thời gian bao quát tiến trình lịch sử từ thế kỷ XV đến thời điểm nghiên cứu (năm 2010), trọng tâm là giai đoạn sau khi Ca trù được UNESCO vinh danh (2008 - 2010).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Đề tài tiếp cận đối tượng nghiên cứu dựa trên quan điểm bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể gắn liền với phát triển du lịch bền vững. Khóa luận tổng thuật và kế thừa các kết quả nghiên cứu từ nhiều công trình khoa học chuyên khảo:

  • Ca trù - thú xưa tao nhã của tác giả Nguyễn Quảng Tuân (Nhà xuất bản Văn học, 2003).
  • Góp phần tìm hiểu lịch sử ca trù của tác giả Nguyễn Xuân Diện (Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 2000).
  • Ca trù nhìn từ nhiều phía của các tác giả Phạm Đình Hổ, Xuân Lan, Phạm Văn Duyệt (Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, 2003).
  • Trần Văn Khê & âm nhạc dân tộc của Giáo sư Trần Văn Khê (Nhà xuất bản Trẻ, 2000).
  • Tìm hiểu Ca trù Hải Phòng của tác giả Giang Thu và Vũ Thu Loan (2001).
  • Các tư liệu Hán Nôm cổ, tiêu biểu là bài Đại nghĩ bát giáp thưởng đào giải văn của Tiến sĩ Lê Đức Mao trong Lê tộc gia phả (ký hiệu tư liệu A.1855, Viện Nghiên cứu Hán Nôm), hệ thống văn bia tại các đình làng Bắc Bộ và hồ sơ kiểm kê của Viện Âm nhạc Việt Nam.

Tác giả đã triển khai ba phương pháp nghiên cứu chính:

  • Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu: Thu thập thông tin, tư liệu lịch sử, Hán Nôm, văn hóa học, âm nhạc học và du lịch từ nhiều nguồn khác nhau; tiến hành phân tích, chọn lọc nhằm xác lập hệ thống luận cứ khoa học.
  • Phương pháp thực địa (điền dã): Trực tiếp khảo sát thực tế tại địa bàn huyện Thủy Nguyên và làng Đông Môn để thu thập tư liệu xác thực về di tích, nghệ nhân, lề lối diễn xướng và hoạt động câu lạc bộ.
  • Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh và tổng hợp: Thống kê dữ liệu văn bia, câu lạc bộ, nghệ nhân; phân tích mối quan hệ tương quan giữa di sản và các yếu tố cấu thành sản phẩm du lịch; tổng hợp dữ liệu làm cơ sở hoạch định định hướng và giải pháp.

Nguồn dữ liệu sử dụng trong khóa luận gồm các công trình nghiên cứu đã xuất bản, 64 văn bản khế ước văn bia Hán Nôm lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, số liệu kiểm kê di sản ca trù toàn quốc của Viện Âm nhạc Việt Nam (tháng 10/2008) và tài liệu địa chí, thống kê kinh tế - xã hội của huyện Thủy Nguyên năm 2010.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về nghệ thuật Ca trù

Chương 1 khái quát lịch sử hình thành, đặc trưng nghệ thuật và các giá trị của Ca trù Việt Nam. Về nguồn gốc, truyền thuyết dân gian ghi nhận hai vị tổ nghề là Đinh Lễ (tự Nguyên Sinh, người làng Cổ Đạm, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh) và Bạch Hoa (con gái Quan châu Thường Xuân, Thanh Hóa Bạch Đình Sa). Đinh Lễ được hai tiên ông Lý Thiết Quài và Lã Động Tân trao khúc gỗ ngô đồng và bản vẽ để đóng đàn đáy. Các triều đại phong tặng Đinh Lễ là Thanh Xà Đại vương và Bạch Hoa là Mãn Đào Hoa Công chúa. Nhiều đình thờ tổ nghề ca trù còn hiện diện tại Lỗ Khê (Đông Anh, Hà Nội), Phú Đô (Từ Liêm, Hà Nội) và Phượng Cách (Quốc Oai, Hà Nội).

Về mặt tư liệu lịch sử xác thực, dấu tích chữ viết cổ nhất có hai chữ "Ca trù" là bài Đại nghĩ bát giáp thưởng đào giải văn của Tiến sĩ Lê Đức Mao (1462-1529) trong Lê tộc gia phả soạn trước năm 1505 tại đình Đông Ngạc (Từ Liêm, Hà Nội), ghi lại tục thả thẻ tre (trù) vào chậu thau thưởng tiền cho đào nương khi người cầm chầu điểm tiếng trống "chát". Sang thế kỷ XVI, hình ảnh đàn đáy xuất hiện trên các bức chạm khắc ở đình Lỗ Hạnh (Bắc Giang), đình Tây Đằng (Hà Nội) và chùa Cói (Vĩnh Phúc). Trong thế kỷ XVII và XVIII, sinh hoạt hát cửa đình phát triển mạnh mẽ với hệ thống Ty giáo phường quản lý cấp huyện và các giáo phường cấp xã. Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm lưu trữ 64 bản rập văn bản mua bán quyền giữ cửa đình (14 bản thế kỷ XVII, 39 bản thế kỷ XVIII, 9 bản thế kỷ XIX và 2 bản không rõ niên đại). Văn bia ghi nhận 8 họ giáo phường gồm: họ Đông (4 bia), họ Xuân (2 bia), họ Thịnh, họ Từ, họ Hoàng, họ Việt, họ Kiều, họ Khổng (mỗi họ 1 bia).

Sang thế kỷ XIX, thể cách Hát nói đạt đến đỉnh cao với cấu trúc thơ Nôm chuẩn mực (đủ khổ 11 câu, thiếu khổ 6 câu, dôi khổ, gối hạc 12-24 chữ, kết hợp Hát Mưỡu). Đến thế kỷ XX, ca trù chuyển dịch mạnh mẽ ra các đô thị với hệ thống ca quán/nhà hát cô đầu. Theo báo Trung Bắc chủ nhật số 129 năm 1942 (ký giả Hồng Lam), riêng năm 1938 ngoại ô Hà Nội có 216 nhà hát và gần 2.000 cô đầu tại Khâm Thiên, Thái Hà, Ngã Tư Sở, Vạn Thái, Cầu Giấy, Gia Quất... Sau năm 1945, do những biến tướng thương mại và định kiến xã hội, ca trù bước vào giai đoạn thoái trào. Từ thập niên 1990, nghệ thuật này từng bước hồi sinh qua các câu lạc bộ (CLB Ca trù Hà Nội thành lập năm 1991, CLB Ca trù Thái Hà năm 1995, CLB đền Bích Câu năm 1997) và các kỳ liên hoan toàn quốc các năm 2000, 2005, 2006, 2007, 2009.

Khóa luận phân loại 8 tên gọi của nghệ thuật Ca trù dựa trên danh từ nghệ sĩ, không gian sinh hoạt, thể thức thù lao và diễn xướng:

Tên gọi Căn cứ và ý nghĩa phân loại
Hát Ả đào Xuất phát từ tên ca nương Đào Thị thời vua Lê Thái Tổ, người hát hay được triều đình ban thưởng.
Hát Ca trù Hình thành từ phương thức thù lao bằng thẻ tre (trù) quy đổi thành tiền mặt tại cửa đình, cửa đền.
Hát Cửa quyền Hình thức biểu diễn lễ nhạc cung đình phong kiến do chức quan Thái thường trông coi.
Hát Ca công Tên gọi cổ chỉ nghệ sĩ thuộc giáo phường; về sau lưu giữ phổ biến tại khu vực Thanh Hóa.
Hát Cửa đình Hoạt động diễn xướng tổng hợp phục vụ nghi lễ tế thần thành hoàng tại đình, đền làng xã.
Hát Nhà trò Lối diễn xướng kết hợp nghệ thuật múa và các trò diễn sân khấu dân gian ("bỏ bộ").
Hát Nhà tơ Sinh hoạt biểu diễn tại tư dinh quan lại, hoặc cách gọi diễn Nôm từ cơ quan Ty giáo phường.
Hát Cô đầu Danh xưng bắt nguồn từ tiền Đầu – khoản tiền con em trích ra phụng dưỡng đào nương danh ca dạy nghề.

Cấu trúc chầu hát Ca trù gồm 3 thành phần chính:

  • Đào nương (Ca nương): Vừa hát vừa gõ phách. Kỹ thuật thanh nhạc phức tạp, lấy hơi từ đan điền và khoang mũi, ém hơi nơi cổ họng (kỹ thuật đổ hột, sang hơi, đổ con kiến), khuôn miệng giữ hình chữ "nhất". Đào nương phải trải qua 5 năm học nghề và 1 năm thực tập trước khi làm lễ mở xiêm y để chính thức hành nghề.
  • Kép đàn: Nam nhạc công sử dụng đàn đáy 3 dây đệm cho ca nương, thể hiện các làn điệu chuyên biệt như Bắc phản, Hà nam, hát Giai, Đào luồn kép với.
  • Quan viên: Người nghe thưởng ngoạn, am hiểu âm luật, cầm chầu sử dụng trống chầu để chấm câu, khen thưởng hoặc trách phạt.

Bộ nhạc cụ chuyên biệt gồm có:

  • Phách: Gồm bàn phách bằng tre (dài khoảng 30 cm, rộng 4 cm), 2 lá phách và 1 tay ba bằng gỗ mít; thực hiện 5 khổ phách cơ bản (khổ sòng, khổ giữa, khổ siết/rãi, khổ lá đầu, khổ chặn/khóa).
  • Trống chầu: Tang trống bằng gỗ mít cao 18 cm, hai mặt bịt da nách trâu nạo mỏng đường kính 15 cm đóng bằng đinh tre, sử dụng 2 dùi gỗ cứng dài 25 cm.
  • Đàn đáy: Nhạc cụ 3 dây đặc trưng của người Việt.

Theo báo cáo kiểm kê của nhà nghiên cứu Hồ Thị Hồng Dung (Viện Âm nhạc Việt Nam) tính đến tháng 10 năm 2008:

  • Cả nước có 63 câu lạc bộ tại 14 tỉnh, thành phố;
  • Tổng cộng 769 người thực hành nghệ thuật (513 đào nương, 256 kép đàn và người cầm chầu);
  • Ghi nhận 99 di tích liên quan đến ca trù;
  • Hà Nội dẫn đầu về số lượng đào nương (130 người) và số CLB (13 CLB); Quảng Bình dẫn đầu về số kép đàn và người cầm chầu (59 người) với 11 CLB;
  • Kho tàng tư liệu nắm giữ 42 bài bản, 7 điệu múa, 117 băng đĩa tiếng điền dã, 250 băng đĩa hình và 25 cuốn sách chuyên khảo.

Chương 2: Tìm hiểu về nghệ thuật Ca trù Đông Môn - Thủy Nguyên - Hải Phòng

Chương 2 trình bày tổng quan điều kiện địa lý, tự nhiên, kinh tế - xã hội và tài nguyên du lịch của huyện Thủy Nguyên, đồng thời phân tích cội nguồn nghệ thuật Ca trù Đông Môn.

Huyện Thủy Nguyên nằm ở phía bắc thành phố Hải Phòng (tọa độ 20º55’ vĩ độ bắc, 106º45’ kinh đông), có diện tích tự nhiên 242,7 km² với 37 đơn vị hành chính (2 thị trấn: Núi Đèo, Minh Đức và 35 xã). Địa hình chuyển tiếp đa dạng gồm đồi núi đá vôi, đồng bằng trung tâm và vùng cửa sông ven biển, bao bọc bởi mạng lưới sông ngòi gồm sông Đá Bạc, sông Hàn, sông Cấm, sông Bạch Đằng và hồ Sông Giá. Dân số huyện năm 2010 đạt trên 30 vạn người. Về tài nguyên du lịch, Thủy Nguyên sở hữu tiềm năng du lịch sinh thái và văn hóa tiêu biểu như khu vực cảnh quan Hồ Sông Giá dài nối liền hệ thống sông Bạch Đằng.

Về nghệ thuật truyền thống, làng Đông Môn (xã Hòa Bình) được khẳng định là cái nôi khởi nguyên của Ca trù Hải Phòng, nơi từng có tổ chức giáo phường hoạt động quy củ, lưu giữ dấu tích đình thờ tổ nghề Ca công cùng các bài bản cổ. Cùng với Câu lạc bộ Ca trù Hải Phòng, Câu lạc bộ Ca trù Đông Môn là một trong hai đơn vị nòng cốt của thành phố thực hiện việc bảo tồn và duy trì sinh hoạt thực hành di sản đều đặn.

Chương 3: Một số đề xuất nhằm bảo tồn và khai thác hiệu quả Ca trù Đông Môn phục vụ phát triển du lịch Hải Phòng

Chương 3 đề xuất hệ thống định hướng và giải pháp cụ thể:

  • Công tác bảo tồn và đào tạo thế hệ trẻ: Tổ chức các lớp truyền dạy trực tiếp từ các nghệ nhân cao tuổi; đào tạo bài bản kỹ năng gõ phách, lấy hơi nhả chữ cho đào nương và kỹ thuật bấm ngón đàn đáy cho kép trẻ; phục dựng các nghi thức hát cửa đình truyền thống tại đình làng Đông Môn.
  • Xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù: Thiết kế không gian biểu diễn ca trù thính phòng đạt chuẩn mực tại địa phương; kết nối chương trình biểu diễn Ca trù Đông Môn vào các tuyến du lịch sinh thái - văn hóa lịch sử của huyện Thủy Nguyên (như tour Hồ Sông Giá - di tích Bạch Đằng - làng ca trù Đông Môn).
  • Quảng bá và liên kết liên ngành: Tăng cường tuyên truyền giá trị di sản phi vật thể khẩn cấp đến du khách trong và ngoài nước; phối hợp chặt chẽ giữa Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Viện Âm nhạc, chính quyền địa phương và các doanh nghiệp lữ hành nhằm tạo nguồn kinh phí hỗ trợ nghệ nhân và duy trì hoạt động biểu diễn thường kỳ.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể:

  • Hệ thống hóa toàn diện tiến trình lịch sử ca trù từ thế kỷ XV đến nay thông qua việc đối chiếu tài liệu thư tịch Hán Nôm (Lê tộc gia phả năm 1500), khảo cổ học (chạm khắc đình làng thế kỷ XVI-XVIII), 64 văn bản khế ước chuyển nhượng quyền giữ cửa đình và 11 văn bia về 8 họ giáo phường cổ.
  • Tập hợp số liệu kiểm kê thực trạng ca trù toàn quốc theo báo cáo của Viện Âm nhạc (tháng 10/2008), phản ánh cụ thể cơ cấu 769 nghệ nhân tại 14 tỉnh thành và vị trí của 2 câu lạc bộ ca trù tại Hải Phòng.
  • Làm rõ cấu trúc diễn xướng bác học (đào nương, kép, quan viên), hệ thống 8 tên gọi phân loại theo chức năng xã hội, cấu tạo âm học của bộ phách tre, đàn đáy và trống chầu.
  • Xác lập cơ sở khoa học để khẳng định giá trị lịch sử của làng Ca trù Đông Môn (xã Hòa Bình, huyện Thủy Nguyên) và đề xuất phương án đưa di sản vào chuỗi sản phẩm du lịch văn hóa Hải Phòng.

Về mặt đóng góp học thuật, đề tài là công trình nghiên cứu tiên phong tại địa phương tiếp cận nghệ thuật Ca trù Đông Môn dưới góc độ kinh tế du lịch và quản lý di sản, vượt ra khỏi phạm vi miêu tả thuần túy âm nhạc học nhằm tìm kiếm giải pháp bảo tồn thông qua cơ chế tự tạo nguồn lực từ du lịch.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi khảo sát thực tế của đề tài tập trung chủ yếu vào làng Đông Môn (xã Hòa Bình, huyện Thủy Nguyên) trong bối cảnh các chính sách sau vinh danh UNESCO năm 2009 mới bắt đầu triển khai; các giải pháp liên kết tour tuyến du lịch chủ yếu mang tính định hướng khung, chưa có điều kiện khảo sát định lượng nhu cầu và mức độ chi trả của các phân khúc khách du lịch cụ thể.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu thực nghiệm xây dựng quy trình tour du lịch trải nghiệm di sản ca trù tại Thủy Nguyên; tiến hành khảo sát định lượng ý kiến của các doanh nghiệp lữ hành và du khách quốc tế đối với sản phẩm du lịch âm nhạc dân tộc tại Hải Phòng.

Giá trị tham khảo

Khóa luận cung cấp nguồn tư liệu học thuật giá trị cho sinh viên, học viên và giảng viên các chuyên ngành Văn hóa Du lịch, Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành, Văn hóa học, Việt Nam học và Âm nhạc dân tộc. Đồng thời, công trình là tài liệu tham khảo thiết thực cho các cơ quan quản lý văn hóa, chính quyền huyện Thủy Nguyên và các công ty du lịch trong việc xây dựng sản phẩm du lịch văn hóa phi vật thể tại thành phố Hải Phòng.

Câu hỏi thường gặp

1. Tư liệu chữ viết sớm nhất đề cập đến hai chữ "Ca trù" trong lịch sử văn học Việt Nam là gì?
Tư liệu chữ viết sớm nhất hiện biết có nhắc đến hai chữ "Ca trù" là bài thơ Đại nghĩ bát giáp thưởng đào giải văn của Tiến sĩ Lê Đức Mao (1462-1529) trong sách Lê tộc gia phả (ký hiệu A.1855 tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm), được soạn trước năm 1505 tại đình làng Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội.

2. Cấu tạo bộ phách trong nghệ thuật Ca trù gồm những thành phần nào và có những ngón gõ cơ bản nào?
Bộ phách gồm: một bàn phách bằng tre dài khoảng 30 cm, rộng 4 cm có hai đầu mấu làm chân; hai lá phách bằng tre gõ kép bên tay phải; và một tay ba bằng gỗ mít cầm bên tay trái. Kỹ thuật sử dụng gồm 3 ngón chính: ngón rục, ngón chát và ngón vê, vận hành qua 5 khổ phách chuẩn mực (khổ sòng, khổ giữa, khổ siết/rãi, khổ lá đầu, khổ chặn/khóa).

3. Quy trình đào tạo một đào nương truyền thống mất bao nhiêu thời gian trước khi được công nhận chính thức?
Người học hát phải trải qua 5 năm học nghề (luyện 5 khổ phách, kỹ thuật lấy hơi đan điền, khoang mũi, đổ hột, nhả chữ) và 1 năm thực tập trình diễn. Sau tổng cộng 6 năm, đào nương mới được tổ chức làm lễ mở xiêm y (mở xiêm áo) để chính thức công nhận là nghệ nhân hành nghề.

4. Theo số liệu thống kê của Viện Âm nhạc Việt Nam vào tháng 10 năm 2008, quy mô nghệ nhân và câu lạc bộ ca trù trên toàn quốc như thế nào?
Tính đến tháng 10/2008, toàn quốc có 63 câu lạc bộ tại 14 tỉnh thành với 769 người biết đàn, hát và múa ca trù (513 đào nương, 256 kép đàn và người cầm chầu) cùng 99 di tích liên quan. Hà Nội có số đào nương nhiều nhất (130 người, 13 CLB), Quảng Bình có số kép đàn và người cầm chầu nhiều nhất (59 người, 11 CLB).

5. Vì sao làng Đông Môn (xã Hòa Bình, huyện Thủy Nguyên) được chọn làm địa bàn nghiên cứu trọng điểm trong khóa luận?
Làng Đông Môn là nơi khởi nguyên của nghệ thuật Ca trù Hải Phòng, nơi từng có tổ chức giáo phường hoạt động chuyên nghiệp, còn lưu giữ dấu tích đình thờ tổ nghề Ca công và duy trì lễ hội hát ca trù cổ truyền vào ngày 23-24/9 âm lịch hằng năm.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Phạm Thị Hồi đã cung cấp một bức tranh toàn diện và sâu sắc về lịch sử, đặc trưng nghệ thuật cùng giá trị văn hóa của Ca trù Việt Nam nói chung và Ca trù Đông Môn (Thủy Nguyên, Hải Phòng) nói riêng. Đề tài đã hệ thống hóa các chứng tích lịch sử, văn bia Hán Nôm và số liệu kiểm kê thực trạng của Viện Âm nhạc, từ đó khẳng định vị thế di sản cần được bảo vệ khẩn cấp. Các giải pháp gắn kết bảo tồn di sản với khai thác du lịch sinh thái - văn hóa tại Thủy Nguyên được đề xuất một cách khoa học, mở ra hướng đi thiết thực nhằm phát huy bền vững giá trị văn hóa dân tộc trong đời sống đương đại.