Tìm hiểu nghệ thuật ca trù Đông Môn Thủy Nguyên Hải Phòng và định hướng khai thác trong du lịch

Tài liệu nghiên cứu Khoá luận tốt nghiệp tìm hiểu nghệ thuật ca trù đông môn thủy nguyên hải phòng và định hướng khai, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Chuyên ngành

Văn hóa dân gian

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

nghiên cứu khoa học
107
11
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Nghệ thuật ca trù và lịch sử hình thành

Nghệ thuật ca trù là một bộ môn nghệ thuật truyền thống đặc sắc của Việt Nam, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp vào năm 2009. Ca trù Đông Môn, thuộc huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng, là một trong những cái nôi của nghệ thuật này. Lịch sử hình thành ca trù gắn liền với các truyền thuyết và thần tích, trong đó, các vị tổ ca trù được tôn vinh qua các đền thờ và lễ hội. Nghệ thuật này đã trải qua nhiều thế kỷ phát triển, từ thời Lý - Trần đến thời Hậu Lê, và trở thành một phần không thể thiếu trong văn hóa dân gian Bắc Bộ.

1.1. Truyền thuyết và thần tích ca trù

Theo truyền thuyết, ca trù bắt nguồn từ thế kỷ XV, gắn liền với câu chuyện về Đinh Lễ và Bạch Hoa, những người được coi là tổ của nghệ thuật này. Họ đã sáng tạo ra cây đàn đáy và lối hát múa độc đáo. Các đền thờ tổ ca trù, như đền Tổ Cô đầu ở làng Cổ Đạm, là nơi lưu giữ những thần tích và di tích liên quan đến sự ra đời của ca trù. Những lễ hội hàng năm tại các đền thờ này không chỉ là dịp tôn vinh các vị tổ mà còn là cơ hội để các nghệ sĩ ca trù gặp gỡ, trao đổi kinh nghiệm.

1.2. Sự phát triển của ca trù qua các thời kỳ

Ca trù đã phát triển mạnh mẽ từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII, gắn liền với các nghi lễ hát thờ tại các đình làng. Các bức chạm khắc tại các đình, chùa như đình Lỗ Hạnh, đình Tây Đằng, và chùa Cói là minh chứng cho sự hiện diện của ca trù trong đời sống văn hóa dân gian. Các giáo phường ca trù được tổ chức chặt chẽ, với các quy định về việc biểu diễn và quản lý. Điều này cho thấy ca trù không chỉ là một loại hình nghệ thuật mà còn là một phần quan trọng trong đời sống tâm linh và văn hóa của người dân Bắc Bộ.

II. Ca trù Đông Môn và giá trị văn hóa

Ca trù Đông Môn là một trong những di sản văn hóa đặc sắc của Hải Phòng, thể hiện qua các lễ hội và nghi thức hát thờ tại đình làng. Nghệ thuật này không chỉ mang giá trị thẩm mỹ mà còn là một phần của bản sắc văn hóa địa phương. Tuy nhiên, ca trù Đông Môn đang đối mặt với nguy cơ mai một do sự thay đổi của xã hội và sự thiếu quan tâm của thế hệ trẻ. Việc bảo tồn và phát huy giá trị của ca trù Đông Môn là một nhiệm vụ cấp thiết, đặc biệt trong bối cảnh phát triển du lịch văn hóa hiện nay.

2.1. Đặc trưng nghệ thuật ca trù Đông Môn

Ca trù Đông Môn có những nét đặc trưng riêng, từ cách biểu diễn đến các nghi thức hát thờ. Nghệ thuật này kết hợp giữa tiếng hát, tiếng đàn đáy, và tiếng phách, tạo nên một không gian âm nhạc độc đáo. Các lễ hội ca trù tại Đông Môn, diễn ra vào ngày 23-24/9 âm lịch hàng năm, là dịp để người dân địa phương và du khách thưởng thức và tìm hiểu về nghệ thuật truyền thống này.

2.2. Nguy cơ mai một và nhu cầu bảo tồn

Mặc dù có giá trị văn hóa to lớn, ca trù Đông Môn đang đối mặt với nguy cơ mai một do sự thiếu quan tâm của thế hệ trẻ và sự thay đổi của xã hội. Việc bảo tồn và phát huy giá trị của ca trù Đông Môn không chỉ là trách nhiệm của cộng đồng địa phương mà còn là một phần trong chiến lược phát triển du lịch văn hóa của Hải Phòng. Các giải pháp như tổ chức các lớp học ca trù, quảng bá rộng rãi hơn về nghệ thuật này, và kết hợp ca trù vào các tour du lịch văn hóa là những hướng đi cần được thực hiện.

III. Định hướng phát triển du lịch văn hóa

Định hướng phát triển du lịch dựa trên giá trị của ca trù Đông Môn là một chiến lược quan trọng để bảo tồn và phát huy nghệ thuật truyền thống này. Du lịch Hải Phòng có thể kết hợp ca trù vào các chương trình du lịch trải nghiệm, giúp du khách hiểu sâu hơn về văn hóa địa phương. Đồng thời, việc phát triển du lịch văn hóa cũng góp phần tăng thu nhập cho cộng đồng địa phương và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của Hải Phòng.

3.1. Kết hợp ca trù vào du lịch trải nghiệm

Việc kết hợp ca trù Đông Môn vào các chương trình du lịch trải nghiệm là một hướng đi hiệu quả để quảng bá nghệ thuật này. Du khách có thể tham gia các buổi biểu diễn ca trù, học cách chơi đàn đáy, và tìm hiểu về lịch sử và ý nghĩa của ca trù. Điều này không chỉ giúp du khách có những trải nghiệm độc đáo mà còn góp phần nâng cao nhận thức về giá trị của nghệ thuật truyền thống.

3.2. Phát triển du lịch văn hóa bền vững

Phát triển du lịch văn hóa Hải Phòng cần được thực hiện một cách bền vững, đảm bảo sự cân bằng giữa bảo tồn và khai thác. Các giải pháp như xây dựng các điểm du lịch văn hóa, tổ chức các lễ hội ca trù thường niên, và đào tạo hướng dẫn viên du lịch am hiểu về ca trù là những bước đi cần thiết. Điều này không chỉ giúp bảo tồn nghệ thuật ca trù mà còn góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

12/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu hay kết thúc cho một bài hát nói. Hát nói không nhằm tới việc thuyết giáo hay rao giảng mà chỉ nhằm tới một nhu cầu rất chính đáng của con người đó là nhu cầu giải trí. Ca trù ở Ca quán được tinh giản chỉ gồm: phách, đàn đáy và chiếc trống chầu. Thơ nương vào nhạc và nhạc là để phục vụ cho thơ, người nghe nhằm dến thưởng thức Sinh viên: Phạm Thị Hồi - VH1101 10 Tìm hiểu nghệ thuật Ca trù Đông Môn - Thủy Nguyên - Hải Phòng và định hướng khai thác trong du lịch thơ là chính.

Trong lịch trình phát triển của Ca trù, chỉ đến khi có Ca trù ca quán mới có mối tình của văn nhân và ca nương. Thế kỉ XX Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, người Pháp đã đặt xong nền đô hộ tại Đông Dương. Nhiều tỉnh lỵ, huyện lỵ được mọc lên bên cạnh những trục đường giao thông lớn nhỏ. Một số giáo phường ca trù ở nông thôn đã di chuyển ra tỉnh và bám theo dọc các trục đường giao thông để mở nhà hát (ca quán).

Trước kia người hát đến nhà người nghe hát. Kể từ khi có ca quán, người nghe hát đến ca quán để nghe hát. Từ đó nảy nở mối tình giữa văn nhân và đào nương. Khắp các nơi phố thị, ca quán ca trù mọc lên như nấm sau mưa.

Ở miền Trung thì Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa, tỉnh nào cũng có nhà hát cô đầu. Ở miền Bắc những thành phố lớn đều có nhà hát, ở Nam Định trước cô đầu mở nhà hát ở phố Hàng Thao, sau thiên xuống Ngã Sáu. Theo phóng sự điều tra của ký giả Hồng Lam trên báo Trung Bắc chủ nhật số 129, năm 1942 thì riêng năm 1938, ngoại ô Hà Nội có 216 nhà hát và gần 2000 cô đầu tập trung trước thì ở Hàng Giấy, ấp Thái Hà, sau đến Khâm Thiên, Ngã Tư Sở, Vạn Thái, Chùa Mới, Cầu Giấy, Kim Mã, Văn Điển, Gia Quất. Trong các khu phố có các ca quán ả đào, Khâm Thiên và Ngã Tư Sở là những địa chỉ tiêu biểu vì sự gắn bó với các nhà văn nhà thơ nổi tiếng: Tản Đà, Nguyễn Tuân, Vũ Bằng, Hoài Điệp Thứ Lang, Vũ Hoàng Chương.

Khâm Thiên là nơi nhộn nhịp nhất của làng cầm ca thuở ấy. Nơi đây có nhà hát 24 gian, có những người quản lý giỏi, khiến cho cả khu phố quanh năm đỏ đèn. Nhà văn Vũ Bằng gọi xóm Khâm Thiên là “cái nôi văn nghệ của Hà Nội”. Ông cho biết: “tôi chưa thấy có nhà văn nhà báo đất Bắc nào mà lại không ra vào nhà hát cô đầu”, và các xóm cô đầu “quả là cái lò đúc ra văn nghệ sĩ”.

Và ông kể về việc làm báo ở những tòa báo “lúc đó ở những con đường Nhà thương Phủ Doãn nhưng thật tình chỉ có một anh quản lý và một người tùy phái ở đây thường trực mà thôi. Còn bao nhiêu nhân viên tòa soạn thiết lập đại bản doanh ở Khâm Thiên, Vạn Thái… Đại bản doanh lưu động, nay ở nhà này mai ở nhà khác. Chúng tôi viết bài, sửa bài ở nhà hát rồi gói tròn Sinh viên: Phạm Thị Hồi - VH1101 11 Tìm hiểu nghệ thuật Ca trù Đông Môn - Thủy Nguyên - Hải Phòng và định hướng khai thác trong du lịch cả lại để vào một chỗ nhất định. Sáng ra người tùy phái đạp xe cọc cà, cọc cạch xuống lấy bài, đem về cho nhà in xếp chữ.

Mỗi tuần lễ một lần, tôi lại hạ san từ xóm về nhà in để “mi” và vét tiền két chi nhà hát”. Phải nói rằng văn hóa ả đào, văn hóa ca trù đã thấm đẫm trong sáng tạo của thi sĩ, văn sĩ trước 1945. Cũng tại Khâm Thiên, Nguyễn Tuân đã sống và tích lũy vốn liếng cho các tác phẩm về ca trù như Đới roi, Chùa Đàn. Trần Huyền Trân đã sống ở ngõ Cống Trắng, Khâm Thiên, và đã viết tặng danh ca Quách Thị Hồ những dòng thơ chứa chan niềm ưu tư trong bài “Sầu chung” (Năm ấy Quách Thị Hồ tròn 30 tuổi): Tự cổ sầu chung kiếp xướng ca Mênh mông trời đất vẫn không nhà Người ơi mưa đấy ? Hay sênh phách? Tay yếu gieo lòng xuống chiếu hoa.

… Thôi khóc chi ai kiếp đọa đầy Tỳ bà tâm sự rót nhau say Thơ ta gửi tặng người ngâm nhé Cho vút giọng sầu tan bóng mây. Thế Lữ, Vũ Hoàng Chương, Xuân Diệu, Nguyễn Bính cũng có nhiều bài thơ gửi gắm tâm hồn đồng điệu với các đào nương đem tài sắc tuổi thanh xuân dâng tặng tri âm. Thưởng thức ca trù gọi là “nghe hát”, chứ không phải là “xem hát”. Đào nương ca trù chỉ ngồi yên gần như bất động trong suốt cuộc hát trên một mảnh chiếu cạp điều, với vẻ mặt bình thản, đoan trang.

Đào nương chỉ có một cỗ phách tre đặt trước mặt và “đối thoại” với khách nghe chỉ bằng giọng hát và tiếng phách của mình. Thế nhưng nghệ thuật này đã góp cho văn chương hàng nghìn bài thơ viết bằng chữ Nôm chứa đựng rất nhiều tâm trạng, rất nhiều biến thái vi tế của tâm hồn Việt Nam qua Sinh viên: Phạm Thị Hồi - VH1101 12 Tìm hiểu nghệ thuật Ca trù Đông Môn - Thủy Nguyên - Hải Phòng và định hướng khai thác trong du lịch nhiều thế kỷ với các tên tuổi tiêu biểu như: Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Dương Khuê, Dương Tự Nhu, Nguyễn Hàm Ninh, Chu Mạnh Trinh, Vũ Phạm Hàm, Nguyễn Thượng Hiền, Phan Bội Châu, Bùi Kỷ, Tản Đà. Cùng với sinh hoạt ả đào ở các ca quán đô thị, tại các nhà giam đế quốc, các tù chính trị là các trí sĩ yêu nước, những chiến sĩ cộng sản kiên cường đã vui hát ả đào hàng ngày sau song sắt nhà tù thực dân khủng khiếp để rồi vượt qua không gian chật hẹp đó, kêu gọi quần chúng tập hợp đi theo cách mạng và vững tin vào ngày thắng lợi. Tại Huế, vào những năm trước cách mạng tháng Tám, vẫn là nơi diễn ra các nghi lễ cung đình để chúc thọ Hoàng đế.

Các thi sĩ thuộc Hoàng tộc như Ưng Bình Phúc Giạ Thị cũng rất chuộng hát Ả đào và đã sáng tác nhiều bài thể Hát nói. Song, bên cạnh đó, do ảnh hưởng của nền văn minh phương Tây, những nền tảng đạo đức của dân tộc ta bị lung lay khiến các lề lối, luật lệ khắt khe của Ca trù bị phá vỡ. Ca trù trở thành một thứ kinh doanh, phục vụ nhu cầu của tầng lớp quan lại, người giàu sang thỏa mãn ăn chơi, hưởng lạc khiến ca trù không còn là một thú vui tao nhã. Chính vì thế, sau năm 1945, trong một thời gian khá dài sinh hoạt ca trù vốn tao nhã và sang trọng trước đây đã bị hiểu lầm và đánh đồng với các sinh hoạt thiếu lành mạnh ở một số ca quán đô thị khiến cho xã hội chối bỏ và quyết loại sinh hoạt ca trù ra khỏi đời sống văn hóa.

Ca trù đã không được nuôi dưỡng và phát triển một cách tự nhiên, không được tôn vinh đúng mức, phải chịu tồn tại thiếu sinh khí và tàn lụi. Để tránh mang tiếng xấu, sợ người đời khinh miệt, hầu hết các nghệ nhân Ca trù từng nổi tiếng một thời, người thì mai danh ẩn tích, người thì rời bỏ giáo phường, bỏ phách, bỏ đàn đi tìm nghề khác để kiếm sống. Nhắc đến Cô đầu người ta sợ. Nhắc đến hát Ả đào người ta nghĩ đến một thú ăn chơi làm cho người ta khuynh gia bại sản, có hại cho phong hóa và luân lý.

Nghề hát của đào kép ả đào, của sinh hoạt Ả đào, Cô đầu bị xã hội xa lánh và nhìn nhận rất ác cảm, khiến cho ca trù không thể nảy mầm trổ nụ trong suốt hàng chục năm sau đó. Năm 1976, giáo sư Trần Văn Khê từ Pháp trở về. Ông đã đến Khâm Thiên gặp bà Quách Thị Hồ. Tại đây ông đã ghi âm tiếng hát của bà để giới thiệu với thế giới.

Năm 1978, Hội đồng âm nhạc quốc tế của UNESCO và viện nghiên cứu quốc tế về Âm nhạc so sánh đã trao bằng cho bà vì công lao đặc biệt trong việc Sinh viên: Phạm Thị Hồi - VH1101 13 Tìm hiểu nghệ thuật Ca trù Đông Môn - Thủy Nguyên - Hải Phòng và định hướng khai thác trong du lịch bảo tồn một bộ môn âm nhạc truyền thống có giá trị văn hóa nghệ thuật cao. Năm 1988, tại Liên hoan Quốc tế Âm nhạc tại Bình Nhưỡng, có sự tham gia của 29 quốc gia, băng ghi âm tiếng hát của bà đại diện cho Việt Nam đã được xếp hạng cao nhất. Năm 1991, với sự cố gắng bền bỉ của nghệ sĩ Lê Thị Bạch Vân, cùng với sự giúp đỡ của các nghệ sĩ già, Câu lạc bộ Ca trù Hà Nội ra đời. Câu lạc bộ này hoạt động liên tục từ đó đến nay, được nhiều người biết tới, nhiều báo chí đưa tin và khen ngợi.

Năm 1995, nhóm Ca trù Thái Hà và nhiều nhóm khác đã lần lượt ra đời, đi vào hoạt động. Nhóm Ca trù Thái Hà được coi là nhóm Ca trù đầy đủ và bề thế nhất hiện nay. Năm 1997, một nhóm ca trù khác cũng tự phát hình thành và thường xuyên hoạt động tại đền Bích Câu, mà chủ nhiệm câu lạc bộ là người làng Lỗ Khê, nơi vốn có truyền thống hát Ca trù lâu đời. Năm 2000, Liên hoan Ca trù mở rộng được tổ chức tại Văn miếu Quốc Tử Giám, Hà Nội, lần đầu tiên tụ họp những người hát ca trù của 14 tỉnh thành trong cả miền Bắc.

Nhờ có sự quan tâm của các cấp lãnh đạo Đảng và Nhà nước, các tổ chức đoàn thể xã hội cùng với sự nỗ lực cố gắng của các nghệ nhân, sự hâm mộ nhiệt tình của đông đảo công chúng, bắt đầu từ đó, Ca trù đã tìm được chỗ đứng của âm nhạc cổ truyền trong xã hội đương đại. Ca trù hiện nay Trải qua hơn nửa thế kỷ hình thành và phát triển, Ca trù đã trở thành một loại hình ca nhạc cổ truyền của dân tộc. Đã từng có một thời Ca trù giữ vai trò khá đặc biệt trong đời sống cộng đồng. Nó thịnh hành ở nhiều vùng đất Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Hà Nội, Hà Tây, Bắc Ninh, Nam Định, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng.

Sau một thời dài trầm lắng, nghệ thuật Ca trù đang từng bước được khôi phục và đi vào đời sống bằng nhiều cách.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Khám phá nghệ thuật ca trù Đông Môn Thủy Nguyên Hải Phòng và định hướng phát triển du lịch" mang đến cái nhìn sâu sắc về nghệ thuật ca trù, một di sản văn hóa phi vật thể quý giá của Việt Nam. Bài viết không chỉ giới thiệu về nguồn gốc, đặc điểm và giá trị của ca trù mà còn đề xuất các hướng đi nhằm phát triển du lịch gắn liền với nghệ thuật này. Độc giả sẽ nhận thấy tầm quan trọng của việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa trong bối cảnh phát triển du lịch, từ đó góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng và thu hút du khách.

Để mở rộng thêm kiến thức về các di sản văn hóa và phát triển du lịch, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn du lịch văn hóa phát triển du lịch Thái Nguyên, nơi khám phá các chiến lược phát triển du lịch văn hóa tại một địa phương khác. Bên cạnh đó, Luận án tiến sĩ chính sách đối với nghệ nhân thực hành di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam sẽ cung cấp cái nhìn sâu hơn về chính sách hỗ trợ cho các nghệ nhân, những người giữ gìn và phát huy di sản văn hóa. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu về Luận án Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa từ năm 1998 đến năm 2014, để thấy được những nỗ lực trong việc bảo tồn di sản văn hóa tại một trong những thành phố lớn nhất Việt Nam. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về việc bảo tồn và phát triển di sản văn hóa trong bối cảnh hiện đại.