mở đầu triều đại Lê Trung Hưng, cát cứ tại Thanh Hóa. Cuộc chiến Lê - Mạc diễn ra trong ngót 60 năm, đến năm 1592, với sự phò tá đắc lực của các tướng Nguyễn Kim, Trịnh Kiểm, Trịnh Tùng, vua Lê cuối cùng cũng trở về thành Thăng Long, nối lại cơ nghiệp đế vương. Song thế lực của tập đoàn chúa Trịnh ngày càng lớn mạnh. Bình An Vương Trịnh Tùng hạ sát và bức tử các vị vua chống đối như Lê Anh Tông, Lê Kính Tông, thao túng triều đình, khiến các vua Lê từ năm 1619 trở về sau chỉ còn lại hư vị, mở ra thời kỳ vua Lê - chúa Trịnh kéo dài hơn 200 năm trong tiến trình lịch sử Việt Nam.
Nếu coi áo dài cổ đứng cài khuy là quốc phục của triều Nguyễn thì áo giao lĩnh - tràng vạt hẳn phải là quốc phục của triều Lê. (Hình 9, Phụ lục) Đây là dạng trang phục từng được sử dụng rộng rãi trên toàn cõi Á Đông. Vào năm 1681, Jean Baptiste Tavernier mô tả cách ăn mặc của người Việt trang trọng và đơn giản. Đó là một cái áo dài đến gót chân, gần giống áo dài của Nhật Bản, đàn ông và đàn bà ăn mặc giống nhau không phân biệt.
Áo dài họ mặc được thắt ở khoảng giữa thân bằng một cái thắt lưng lụa, đeo đồ vàng, bạc đánh rất đẹp.( Jean Baptiste Tavemier, k.) Loại áo dài gần giống kimono của người Nhật, được đàn ông và đàn bà Đại Việt thời Lê sử dụng rộng rãi chính là áo giao lĩnh. Qua sắc lệnh của triều đình Lê Trịnh yêu cầu nhân dân vùng Thuận Hóa, vốn nhất loạt đổi mặc áo dài cổ đứng từ năm 1744, phải đổi lại y phục, có thể thấy kiểu áo giao lĩnh và áo cổ tròn trong quan niệm của triều đình nhà Lê chính là dạng áo “quốc tục”. Lê Quý Đôn cho biết: “Mùa xuân năm Bính Dần, đặt Trấn phủ Nha môn (ở Thuận Hóa). Bắt đầu từ tháng 7, tuyên rõ dụ rằng: Y phục bản quốc (chỉ y phục nhà Lê) có chế độ riêng, địa phương này trước đây cũng tuân theo quốc tục.
Nay cung vâng Thượng đức, dẹp yên biên phương, 14 trong ngoài thống nhất, chCác loại quần áo kiểu Khách còn thấy phải đổi theo thể chế quốc tục […] Đàn ông, đàn bà mặc áo trực lĩnh ngắn tay (tức áo giao lĩnh với chiều dài ống tay áo chấm đến cổ tay), ống tay áo rộng hẹp cho được tùy tiện. Áo thì từ hai bên nách trở xuống đều nên may khép lại, không được để mở, không được chiết eo. Riêng đàn ông nếu muốn mặc áo cổ tròn hẹp tay để tiện làm việc cũng được. Lễ phục dùng áo trực lĩnh ống tay dài, hoặc may bằng vải Thanh Cát, hoặc vải thâm, hoặc vải trắng tùy nghi.
Trịnh Hoài Đức cũng cho biết, trước khi diễn ra cuộc cải cách y phục Đàng Trong năm 1744, người Việt tại thành Gia Định vẫn tuân theo tập tục cũ của Giao Chỉ, người dân xõa tóc đi chân đất, nam nữ đều dùng áo trực lĩnh ngắn tay, áo may khép lại hai bên nách, không có quần, đàn ông dùng một khổ vải quấn quanh eo, đến dưới mông thì bó lại thắt vào vùng rốn, gọi là cái khố, đàn bà có loại váy quây không gấp nếp, đội nón lớn. Qua lời ghi nhận của Lê Quý Đôn và Trịnh Hoài Đức, có thể thấy loại áo giao lĩnh sử dụng rộng rãi đương thời không chiết eo và cũng không xẻ vạt quá cao như loại áo dài kiểu Khách, tiền thân của dạng áo dài năm thân. Mặt khác, nam giới thường dân người Việt thường chỉ đóng khố, mặc trùm áo giao lĩnh ra bên ngoài, nhất là ở những vùng đất quanh năm nóng bức. Kiểu cách trang phục này chúng ta còn tìm thấy trong mô tả của quan nhà Thanh, Lý Tiên Căn, “đàn ông đàn bà đều mặc áo cổ lớn, ính trị và phong tục cũng nên như một.
không phân biệt, không có quần, đàn bà có váy quây không gấp nếp”, hay thậm chí có thể truy lên đến thời Trần Hồ qua Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ và bức Giao Chỉ quốc trong Tam tài đồ hội. Ngoài kiểu áo giao lĩnh, cổ tròn thì các dạng áo tứ thân, váy đụp, yếm và khố đều là những kiểu trang phục truyền thống, cố cựu đã hiện diện từ thời Lý - Trần và tiếp tục được kế thừa vào thời Lê - Nguyễn. Jerome Richard miêu tả người Việt Đàng Ngoài năm 1778, cho biết: “Những người phụ nữ nói chung ăn mặc khá khiêm nhã. Họ mặc một chiếc váy dài và một hoặc nhiều áo cùng kiểu như của nam giới nhưng chúng ngắn hơn.
Họ buộc quanh ngực một chiếc yếm là một mảnh vải hoặc một mảnh lụa có hình trái tim, dùng để làm đẹp cho họ […] Những người giàu hoặc có phẩm tước mặc đồ lót cực rộng và dài, áo ngủ có tay hẹp và ngắn cùng kiểu với áo dài bên trong và bên ngoài của họ […] Quần áo của dân Đàng Ngoài đa dạng về màu sắc. Thông thường nhất là màu trắng. Có nghĩa là màu sắc tự nhiên của lụa hoặc của vải. Màu đen phù hợp với những người được trọng vọng nhất.” (Nguyễn Thừa Hỷ, 2019, Tr.214-216) Thanh triều văn hiến thông khảo cũng có ghi nhận tương tự: “Đàn ông đàn bà đều xõa tóc, đi đất.
Quần áo hoặc làm bằng vải hoặc làm bằng lụa, phần lớn dùng sắc trắng. Đàn ông dùng vải thắt lưng, sau đó luồn xuống dưới mông trở ra phía trước thắt bọc lại. Đàn bà dùng vải lụa che ngực. ”( Tứ Duệ Tứ, An Nam, 1936, tr.
Các ghi chép, mô tả này hoàn toàn khớp với những bức vẽ người Giao Chỉ, Quảng Nam trong Boxer Codex (1590). Ngoài ra, về phục sức che đầu đặc trưng của người Việt phải kể đến nón. Vào thời Lý, Chu Khứ Phi miêu tả người Việt hay đội loại nón như hình vỏ ốc, gọi là Loa lạp. Vào thời Lê sơ, qua ghi nhận của Toàn thư, nón Thủy Ma, nón màu trắng ngà, 15 nón sơn v.
là các dạng nón quân trang. Đến đầu thời Lê Trung Hưng, năm 1688, theo mô tả của William Dampier, người Việt ông ta nhìn thấy lúc này thường để đầu trần, không mấy khi đội nón mũ, ngoại trừ khi trời mưa; chỉ có những người dân chài và thợ thuyền mới thường xuyên đội nón rộng vành, đỉnh phẳng như tấm ván. (William Dampier, 2007, Tr.) Song Nishikawa Joken, tác giả của Hoa Di thông thương khảo, lại có ghi nhận hoàn toàn trái ngược với William Dampier. Ông cho biết khoảng những năm 1645, người Việt “hễ đi bộ thì ắt đội nón ”( Nishikawa Joken, k.
Và theo ghi nhận của Phạm Đình Hổ có thể thấy đến cuối thời Lê Trung Hưng, các dạng nón đã hết sức phong phú và phổ biến trong dân gian Việt Nam. Trong đó có nhiều dạng nón vẫn được kế thừa vào thời Nguyễn, được khắc họa trong Kỹ thuật của người An Nam. Phạm Đình Hổ kể lại: “Hồi tôi tám chín tuổi (khoảng năm 1776-1777), thấy người già đội Ngoan Xác lạp (ngoan xác: mai của con giải), tục gọi là nón màu giải (nón có màu tựa màu con giải) hoặc đội nón Tam Giang. Con cái nhà quan và các học trò ở trường Giám thì đội Phương Đẩu đại lạp (phương đẩu: cái đấu vuông), tục gọi là nón lá.
Họ hàng nhà quan mà cao tuổi thì đội Cổ Châu lạp, tục gọi là nón dâu, trung niên hoặc trẻ tuổi thì đội Liên Diệp lạp, tục gọi là nón lá sen. Đàn ông, đàn bà, sĩ thứ trong kinh thành đều đội Cổ Châu lạp, đội Tiểu Liên Diệp lạp, tục gọi là nón nhỏ khuôn. Đàn ông đàn bà thôn quê đội Xuân Lôi tiểu lạp, tục gọi là nón sọ nhỏ. Quân lính đội Trạo lạp, tục gọi là nón chèo vành.
Người hầu hạ và vợ con quân lính đội Viên Đẩu lạp (viên đẩu: cái đấu tròn), tục gọi là nón khùa. Nhà sư và đạo sĩ đội Cẩu Diện lạp (cẩu: cái lờ bắt cá), tục gọi là nón mặt lờ. Người có tang đội Xuân Lôi đại lạp, tục gọi là nón cạp. Người để tang một năm trở xuống đội Cổ Châu lạp, buộc thêm quai mây.
Riêng nhà quyền thế có tang thì đội Cẩu Diện lạp để phân biệt. Đến như hai vùng Thanh Nghệ thì người ta đều đội Viên Cơ lạp (viên cơ: cái sọt tròn), tục gọi là nón Nghệ. Người Mán Nùng ở ngoại trấn đều đội Tiêm Quang Đẩu Nhược lạp, hình như nón khùa mà chóp nhọn, làm bằng vỏ măng nứa, là khác với người tứ chiếng. Đến khoảng năm Nhâm Dần, Quý Mão (1782-1783) quân Tam phủ làm loạn, cậy công làm càn, nhiều người đội nón Viên Cơ để lẫn với lính, dần chuyển thành tục.
Đến năm Bính Ngọ (1786) trong nước có biến, lại bỏ Viên Cơ đội Cẩu Diện, người để tang một năm trở xuống, buộc quai sợi trắng để phân biệt. Ở thôn quê thì phỏng theo dáng nón Ngoan Xác mà hạ thấp phần trên xuống, gọi là Toan Bì lạp, tục gọi là nón vỏ bứa. Thỉnh thoảng có người đội Xuân Lôi tiểu lạp, còn những nón như nón Ngoan Xác, Tam Giang, Phương Đẩu, Cổ Châu, Liên Diệp và Trạo lạp thì không thấy nữa.”( Phạm Đình Hổ, 1927, tr. 173) Vào thời đại này, phụ nữ mặc áo dài tứ thân cổ tròn, thắt lưng buông dài trước bụng, váy dài và rộng.
Tóc thì để dài, rẽ đường ngôi giữa. Những người phụ nữ quý tộc có gu ăn mặc cầu kì hơn, sử dụng những dải xiêm màu sắc rủ xuống chân, góp phần mang lại vẻ đẹp yểu điệu, thướt tha. Trang sức cũng ngày càng đa dạng hơn về kiểu dáng, màu sắc, với vòng tay tròn dẹt, hoa tai hình quả bầu, hình hoa sen hay khuyên tròn đẹp mắt. 16 Đến thời này, áo giao lĩnh cũng vẫn là loại trang phục được sử dụng phổ biến.
Căn cứ theo Vạn quốc nhân vật chi đồ của Nhật Bản được soạn vào năm 1645, người đàn bà thường đội nón rộng, mặc áo giống như áo giao lĩnh có hai vạt buông thõng, bên dưới mặc váy. Đàn ông búi tóc, mặc áo giao lĩnh. Đến thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh, để phân biệt với Đàng Ngoài, chúa Nguyễn Phúc Khoát ban bố lệnh sửa đổi cách ăn mặc của người dân ở Đàng Trong. Trong đó, phụ nữ phải bỏ váy, mặc quần, áo cài khuy và không được thắt vạt, đàn ông thì mặc áo dài.
Còn ở Đàng Ngoài vẫn giữ kiểu trang phục như cũ, đàn ông mặc áo giao lĩnh, phụ nữ mang áo tứ thân buộc vạt.