phần Mở đầu và Kết luận, nội dung chính của luận văn gồm 03 chƣơng: - Chƣơng 1: Tổng quan tƣ liệu; - Chƣơng 2: Kiến trúc đình Tình Quang; - Chƣơng 3: Nghệ thuật điêu khắc, trang trí và định hƣớng bảo tồn, phát huy giá trị đình Tình Quang. Ngoài ra, trong luận văn còn các mục: Tài liệu tham khảo và Phụ lục. Phần đầu của luận văn có Lời cam đoan, Mục lục, Danh mục các chữ viết tắt và Danh mục phụ lục. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: TỔNG QUAN TƢ LIỆU 1.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề Đình làng là một công trình kiến trúc đƣợc coi là lớn nhất của làng xã, là một trung tâm văn hóa truyền thống của cộng đồng. Ngôi đình làng Việt là một đối tƣợng của nhiều nhà nghiên cứu để tìm hiểu về văn hóa nghệ thuật truyền thống của dân tộc và góp phần giới thiệu với công chúng những giá trị văn hóa nghệ thuật của ông cha. Vào những năm đầu thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu của Học viện nghiên cứu Viễn Đông thuộc Pháp là những ngƣời đầu tiên đã chú ý đến các ngôi đình làng của ngƣời Việt. Nghiên cứu dƣới góc độ nghệ thuật kiến trúc, Louis Bezacier trong công trình L’Art Viêtnamien đã viết: Đình làng là trung tâm toàn bộ xã hội Việt Nam thời cổ, cũng là nơi ít chịu ảnh hƣởng của phong cách kiến trúc Trung Hoa nhất.
Ngôi đình đã trở thành một trong những công trình có vẻ oai nghiêm nhất trong phong cảnh Việt Nam [87]. Có thể thấy rằng, ở thời kỳ đầu, các nhà nghiên cứu chú trọng nhiều hơn về vấn đề tôn giáo - tín ngƣỡng. Ngôi đình làng đƣợc nhìn nhận nhƣ là một dấu vết đang phôi phai của chế độ quân chủ. Cho đến những năm 70 - 80 của thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu mỹ thuật cổ thuộc Viện Mỹ thuật Việt Nam đã tiếp nối việc nghiên cứu đình làng.
Đó là các bài viết của Trần Lâm Biền, Nguyễn Tiến Cảnh, Nguyễn Đỗ Cung, Nguyễn Du Chi, Trần Mạnh Phú, Chu Quang Trứ, Thái Bá Vân… Ngôi đình làng đƣợc nhấn mạnh, ca ngợi nhƣ một điểm sáng của nghệ thuật dân gian Việt. Trong thời kỳ này đã xuất hiện một thuật ngữ khoa học mới điêu khắc đình làng. Các nghiên cứu điền dã đó đã làm “sống lại” hàng loạt ngôi đình khắp các làng quê Việt Nam. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cũng từ góc độ mỹ thuật, hai nhà nghiên cứu Nguyễn Quân và Phan Cẩm Thƣợng đã góp một tiếng nói về nghệ thuật của ngƣời Việt với đình làng.
Thời kỳ đầu những năm 90 của thế kỷ XX, với một loạt bài viết trên Tạp chí Khảo cổ học và Tạp chí Nghiên cứu nghệ thuật, cố PGS.TS Trịnh Cao Tƣởng đã đi sâu hơn về nhiều vấn đề của đình làng nhƣ: Các tƣ liệu về niên đại, đất dựng đình, mặt bằng tổng thể, cấu trúc bộ mái, kết cấu bên trong ngôi đình với vấn đề dân tộc và hiện đại cùng hình tƣợng kiến trúc của ngôi đình. Công trình khảo cứu về Đình Việt Nam của GS Hà Văn Tấn cùng các cộng sự cũng là nguồn tài liệu mà những ngƣời đi sau muốn tìm hiểu, nghiên cứu về đình đều lấy đó để làm tài liệu tham khảo. Nhƣ vậy, đến thời kỳ này, các ngôi đình làng trên cả nƣớc, với niên đại trải dài suốt từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX đã đƣợc phát hiện hoặc nhìn nhận lại dƣới những góc độ khác nhau. Trong khoảng hơn một thế kỷ, có rất nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nƣớc đã khảo cứu, tìm hiểu về ngôi đình làng Việt, cũng từ đây đã nảy sinh nhiều ý kiến, quan niệm khác nhau về lịch sử, nguồn gốc của ngôi đình.
Theo Từ điển tiếng Việt, đình có nghĩa là: “Nhà công cộng của làng thời trước, dùng làm nơi thờ thành hoàng và họp việc làng (thường là nhà to, rộng nhất làng)” [46, tr. Trong nhận thức của nhiều ngƣời, khi nói đến ngôi đình, ngƣời ta nghĩ ngay tới kiến trúc lớn nhất của làng xã, đồng thời, cũng có thể coi đây là một kiến trúc bắt nguồn từ thời Tiền sử, Sơ sử của dân tộc. Nhiều nhà nghiên cứu của thế kỷ XX đã cố công ngƣợc dòng lịch sử để tìm về nguồn gốc của ngôi đình, họ đã tiếp cận từ góc độ các vị thần linh liên quan, trên cả phƣơng diện so sánh kiến trúc với những ngôi nhà có nét tƣơng đồng của tộc ngƣời thiểu số để gần nhƣ tin rằng ngôi đình của ngƣời Việt là một sản phẩm của sự vận 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com động tự thân dân tộc, là sự tổng hòa của nhiều dòng chảy văn hóa nhƣ: nhà sàn, nhà rông (Tây Nguyên), nhà thuyền ven biển cùng nhiều yếu tố khác. Nhiều nhà nghiên cứu của Học viện nghiên cứu Viễn Đông thuộc Pháp đã liên hệ, so sánh và cho rằng có sự tƣơng đồng của đình làng Việt với những kiến trúc công cộng khác của các dân tộc ít ngƣời ở Tây Nguyên và vùng Đông Nam Á.
Đồng quan điểm này, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Huyên cho rằng, đình làng giống kiểu thức nhà công cộng của cƣ dân Minang Kabau (đảo Sumatra). Nhà nghiên cứu Bình Nguyên Lộc cũng liên tƣởng đình làng Việt với kiểu nhà sàn Malayo mà giáng dấp còn lƣu lại ở một tộc ít ngƣời hiện còn sống ở phía Nam quần đảo Nhật Bản [45].TS Trịnh Cao Tƣởng đã viết: “Hầu như tất cả những người nghiên cứu đình làng đều có một dự cảm chung rằng: đình làng đã từng tồn tại trong nền văn hoá Việt cổ từ hàng ngàn năm trước với tư cách là một căn nhà công cộng - nhà làng, tương tự như nhà rông của đồng bào Bana” [68, tr. Nhƣng cũng theo ông thì: “… chúng ta chưa có bất cứ một tư liệu khảo cổ học về đình hoặc là một hình thức gạch nối giữa nhà làng và cái đình” [68, tr. Cố PGS Nguyễn Du Chi có ý kiến: “Tuy nhiên, từ ngôi nhà sàn mái cong khắc trên trống đồng Đông Sơn mà được nhiều nhà nghiên cứu coi như tiền thân xa xôi của ngôi đình làng thời Mạc mà chúng ta còn thấy ngày nay là một dấu gạch nối dài đòi hỏi những phát hiện tìm tòi của nhiều nhà khoa học nữa mới có thể đi đến kết luận rõ ràng được” [17, tr.
Cũng có ngƣời suy luận theo một ngữ nghĩa của chữ đình là dừng lại, cho rằng đình có xuất phát từ đình trạm. Hay nhƣ khi dời đô từ Hoa Lƣ ra Thăng Long, nhà Lý đã bắt dân vùng ven sông Đáy cứ 10 dặm lại dựng một đình cho vua nghỉ và kiến trúc này trở thành đình làng. Trong khi đó, PGS.TS Trần Lâm Biền lại nhìn nhận ngôi đình làng nhƣ một sản phẩm của sự giao thoa, hòa hợp giữa tƣ tƣởng Nho giáo và nhu cầu xã hội có tính dân giã để từ 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đó định mốc niên đại ra đời của ngôi đình làng là vào cuối thế kỷ XV. Theo ông, đình làng khởi nguyên là: “một nhà công cộng để nghỉ chân (đình chạm)” rồi “có những ngôi đã trở thành kiến trúc công cộng của làng xã” [5, tr.
Thực tế, trong lịch sử đã từng tồn tại nhiều loại đình khác nhau: “Tương truyền, vào thời Đinh và Tiền Lê (968 - 980 và 980 - 1009), sứ giả các vùng và các lân quốc thường đi thuyền về kinh đô, lên nghỉ tại Dịch Đình này trước khi được vào bệ kiến. Tuy vậy, từ những căn cứ nêu trên cũng chỉ có thể suy luận rằng Dịch Đình là tiền thân của kiến trúc Quán Sứ về sau” [33, tr. Văn bia chùa Linh Xứng, dựng năm 1126 có ghi: “Kế bên sông có cái đình nhỏ. Thường thuyền bè qua lại đó để nghỉ ngơi” và cho đến nay, có lẽ đây văn bản cổ Việt Nam đầu tiên có chữ đình (亭).
Một loại kiến trúc cũng đƣợc gọi là “đình” đƣợc đề cập tới là vào triều Lý. Đại Việt sử ký toàn thƣ chép: “Bính Tý, [Đại Định] năm thứ 17 [1156]. Làm hành cung Ngự Thiên, điện Thụy Quang, gác Ánh vân, cửa Thanh Hòa, thềm Nghi Phượng, gác Diện Phỳ, đình Thưởng Hoa, thềm Ngọc Hoa, hồ Kim Liên, cầu Minh Nguyệt” [21, tr. Thƣởng Hoa đình này hẳn là tòa nhà để vua quan dừng chân nghỉ ngơi, thƣởng thức vẻ đẹp của hoa và có lẽ nó cũng tƣơng tự nhƣ loại Lan đình đƣợc Đại Việt sử ký toàn thƣ nhắc tới dƣới thời Trần: “Mậu Thìn, [Thiệu Long] năm thứ 11 [1269].
Mùa Xuân, tháng giêng,. xuống chiếu cho các vương hầu tôn thất, khi bãi triều thì vào trong điện và Lan đình. Vua cùng ăn uống với họ. Hôm nào trời tối không về được thì xếp gối dài, trải chăn rộng, kê giường liền cùng ngủ với nhau để tỏ hết lòng yêu quý nhau.
Cũng Đại Việt sử ký toàn thƣ ghi sự kiện năm 1231: “Thượng hoàng xuống chiếu rằng trong nước hễ chỗ nào có đình Trạm đều phải đắp tượng 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phật để thờ. Trước đây, tục nước ta vì nóng bức, nên làm nhiều đình cho người đi đường nghỉ chân, thường quét vôi trắng, gọi là đình Trạm. Thượng hoàng khi còn hàn vi từng nghỉ ở đó. Cƣơng Mục cũng ghi về sự kiện này nhƣng không gọi là đình Trạm mà gọi là Dịch đình [52].
Nhƣ vậy, loại kiến trúc này cũng ít nhất phải có từ thời Lý. Trịnh gia thế phả đã cung cấp cho chúng ta tên gọi một loại đình khác đó là đình Mục Đồng. Theo sách này cho biết thì, thủa hàn vi Trịnh tổ thủa nhỏ đi chăn trâu bao giờ cũng đóng vai trò thủ lĩnh trong đám trẻ mục đồng. Có thể, nó cũng tƣơng tự nhƣ một dạng quán nghỉ giữa đồng, ven đƣờng, vẫn còn đây đó tại các vùng nông thôn đồng bằng Bắc Bộ.
Đó thƣờng là những ngôi nhà nhỏ, ba gian (có chái hoặc không chái), đƣợc dựng dƣới bóng cây lớn, là nơi mọi ngƣời có thể dừng chân nghỉ ngơi tránh mƣa, nắng. Rõ ràng Dịch đình, đình Trạm, Lan đình, Thƣởng Hoa đình hay đình Mục Đồng là một loại kiến trúc hoàn toàn khác, không thể giống những ngôi đình làng nhƣ ta vẫn thấy hiện nay. Thậm chí đình làng còn ngƣợc lại hẳn với đình Trạm. “Trên một cái kẻ của đình làng Phù Lưu (Bắc Ninh) còn ghi:.
kẻ nào cho khách đi đường và bọn công thương trú ngụ (ở trong đình) thì xin thần linh tru diệt” [78, tr. Sang thế kỷ XV, dƣới thời Lê sơ, một loại đình đƣợc nhà nƣớc cho dựng ở kinh đô, dùng làm nơi niêm yết, ban bố chính lệnh: đình Quảng Văn. Sách Cƣơng mục chép: “Tháng 10, mùa đông (năm Tân Hợi 1491) dựng đình Quảng Văn.