CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG VỀ SẢN PHẨM DU LỊCH 1. Khái niệm về du lịch. Ngày nay trên phạm vi toàn thế giới, du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hóa xã hội và hoạt động du lịch đang được phát triển một cách mạnh mẽ, trở thành một ngành kinh tế quan trọng ở nhiều nước trên thế giới. Theo Pirôgionic (1985), “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian nhàn rỗi liên quan đến sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức – văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa”.
Theo luật du lịch Việt Nam (2005), Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan tìm hiểu giải trí, nghỉ dưỡng trong một thời khoảng thời gian nhất định. Khái niệm về khu du lịch: Là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với ưu thế về tài nguyên du lịch tự nhiên, được quy hoạch, đầu tư, phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, đem lại hiệu quả kinh tế và môi trường. Các loại hình du lịch. Khái niệm du lịch sinh thái.
DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hoá bản địa gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương. Khái niệm du lịch văn hóa. Là loại hình du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương nhằm phát triển bền vững. Khái niệm du lịch nghỉ dưỡng.
Là loại hình du lịch có tác dụng giải trí, giúp phục hồi thể lực và tinh thần cho con người. Khái niệm du lịch chữa bệnh. Là hình thức đi du lịch để điều trị một căn bệnh nào đó về thể xác và tinh thần. Mục đích đi du lịch là vì sức khỏe.
Loại hình du lịch này gắn liền với việc chữa bệnh và nghỉ ngơi tại các trung tâm chữa bệnh. Khái niệm du lịch Mice Là loại hình du lịch kết hợp hội nghị, hội thảo, triển lãm, tổ chức sự kiện, du lịch khen thưởng của các công ty cho nhân viên, đối tác. Khái niệm về sản phẩm du lịch Có rất nhiều khái niệm khác nhau về sản phẩm du lịch. Sản phẩm du lịch là một tổng thể bao gồm các thành phần không đồng nhất hữu hình và vô hình.
Theo Michael M Coltman: “Sản phẩm du lịch là một món hàng cụ thể như thức ăn, hoặc một món hàng không cụ thể như chất lượng phục vụ, bầu không khí tại nơi nghỉ mát”. Theo Krapt: Sản phẩm du lịch còn gọi là kinh nghiệm du lịch và nó là tổng thể nên Kraft nói “một khách sạn không làm nên du lịch”. Sản phẩm du lịch là toàn bộ những yếu tố phục vụ cho khách du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu và mong muốn của họ. Nó bao hàm các dịch vụ về du lịch, hàng hóa, các tiện nghi cung cấp cho du khách, được tạo bởi các yếu tố tự nhiên, kỹ thuật và lao động du lịch tại một vùng, một cơ sở nào đó.
Nói đến sản phẩm du lịch là nói đến dịch vụ du lịch. Nó là sản phẩm của lao động sống của ngành du lịch nhằm phục vụ khách du lịch bao gồm: vận chuyển, hướng dẫn viên, ăn ở, chăm sóc sức khỏe và an toàn cho khách, tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí và các dịch vụ bổ sung như massage, thu đổi ngoại tệ, giặt ủi…được gói gọn trong tour du lịch. Tùy vào nhu cầu của du khách mà mỗi chương trình du lịch có đặc điểm khác nhau về tính tiện lợi. “Sản phẩm du lịch (tour product) Là hỗn hợp các yếu tố hình thành một tổng thể không thể không thể tách rời gồm: các di sản du lịch ( tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nhân văn, lịch sử, văn hóa, nghệ thuật) các phương tiện vận chuyển, truyền tải đối tượng du lịch đến với tài nguyên du lịch, các dịch vụ cung cấp và sử dụng tài nguyên du lịch”.
Khái niệm này tôi chọn sử dụng xuyên suốt đề, bởi tính ứng dụng thiết thực, dễ hiểu và được sử dụng rộng rãi ch các hoạt động nghiên cứu có liên quan đến sản phẩm du lịch. Đặc điểm của sản phẩm du lịch - Sản phẩm du lịch không thể thích nghi với những biến đổi của cầu du lịch theo không gian và thời gian. - Sản phẩm du lịch là sản phẩm phi cụ thể (hàng hóa, dịch vụ) thường rất dễ bị bắt trước, bị cạnh tranh, bị thách thức trên thị trường. - Khách mua sản phẩm du lịch phải tiêu pha khá nhiều tiền bạc trong thời gian dài trước khi họ có thể được thưởng thức sản phẩm đó.
- Không thể tăng lượng sản phẩm du lịch trong thời gian ngắn mà hầu hết nó phải được hình thành trong thời gian dài thậm chí là rất dài. - Nhu cầu của khách hàng rất hay thay đổi, họ ít khi trung thành với một nhãn hiệu sản phẩm du lịch nào. - Nhu cầu của khách hàng đối với một sản phẩm du lịch phụ thuộc và các yếu tố vĩ mô như : những biến động chính trị, kinh tế xã hội, sự giao động của tỉ giá hối đoái, sự suy thoái kinh tế, lạm phát. - Vòng đời của sản phẩm du lịch cũng giống như vòng đời của các sản phẩm hàng hóa khác.
- Tính thời vụ - Tính mùa - Điều kiện khí hậu - Thời tiết 1. Sự khác biệt của sản phẩm du lịch so với các sản phẩm khác - Sản phẩm du lịch là một sản phẩm cứng ngắc do sự thiếu linh hoạt và không thể tồn kho như sản phẩm khác, nó phải được tiêu thụ tại chỗ: khách sạn, sân bay, cơ sở vui chơi giải trí. - Không thể dời đến nơi khách có nhu cầu mà khách hàng phải luôn tìm đến nó. - Không thể dời sang vùng khác để tiếp tục kinh doanh khi mùa du lịch chấm dứt.
Thành phần của sản phẩm du lịch 1. Cách sắp xếp sản phẩm du lịch theo Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO) - Di sản tự nhiên - Di sản năng lượng - Di sản về con người - Những hình thái xã hội Trang 7 - Những hình thái về thiết chế chính trị pháp chế hành chính - Những điều tốt đẹp và mọi dịch vụ, phương tiện vận chuyển, hạ tầng cơ sở - Những hoạt động kinh tế tài chính 1. Cách sắp xếp của Jeffries và Krippendorf - Các di sản thiên nhiên tài nguyên thiên nhiên - Các di sản do con người tạo ra - Các yếu tố thuộc về con người: Tôn giáo, phong tục tập quán - Hệ thống các phương tiện giao thông, thông tin liên lạc - Những cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ cho ngành du lịch: Khách sạn, nhà hàng,… - Các chính sách kinh tế tài chính, chính sách xã hội. Cách sắp xếp của Michael M Coltman.
M Coltman chia sản phẩm du lịch theo thành 2 hướng tài nguyên: Tài nguyên theo hướng Maketing. - Tài nguyên thiên nhiên: Phong cảnh, công viên, hồ suối, núi non, dốc đá, hệ động thực vật, bãi biển, hải cảng… - Nơi tiêu biểu văn hóa và lịch sử vùng khảo cổ, kiến trúc truyền thống, nghề thủ công bản địa, thực phẩm đặc sản, lễ luật, nghi thức phong tục, múa hát… - Nơi giải trí: Công viên, sân golt, nơi cắm trại, nơi picnic, nơi bơi lội… - Các tiện nghi du lịch: Chiêu đãi, phục vụ nghỉ ngơi, nhà hàng, mua sắm, trung tâm thông tin, hệ thống đăng ký đặt chỗ… - Khí hậu - Các tài nguyên thiên nhiên khác - Hấp dẫn tâm lý: mỹ quan, thái độ hài lòng Cách sắp xếp theo chức năng điều hành. - Khả năng mua đất đai - Kế hoạch và phân vùng - Vận chuyển: đường bộ, đường hàng không, đường xe lửa, xe đò - Phục vụ công cộng: nước dùng, điện, nước thải - Kỹ nghệ trợ giúp: công an, cứu hỏa, y tế, nhà thờ, ngân hàng, cung ứng lương thực, thực phẩm, các dịch vụ trợ giúp khác - Lực lượng lao động: thuê mướn lao động được, khéo léo tay nghề, dạy ngoại ngữ - Vốn Trang 8 - Thái độ của chính quyền địa phương 1. Các mô hình của sản phẩm du lịch.
Để tạo nên các sản phẩm du lịch thật độc đáo, riêng biệt cần phải lập nên những mô hình sản phẩm du lịch. Từ những thành phần cấu tạo của sản phẩm du lịch, các nhà du lịch rút ra những yếu tố căn bản để lập nên những mô hình sản phẩm du lịch. Tùy theo yếu tố thiên nhiên của mỗi nước và quan niệm của mỗi nhà nghiên cứu du lịch, từ đó tạo nên những mô hình sản phẩm du lịch áp dụng cho đất nước cũng như các vùng miền. Dưới đây là những mô hình sản phẩm du lịch đang được thịnh hành ở những đất nước có nền công nghiệp không khói phát triển có thể áp dụng để phát triển cho các sản phẩm du lịch của khu du lịch, đó là mô hình sản phẩm 4S, 3H và 6S.
Mô hình 4S - SEA: Biển. - SUN: Mặt trời, tắm nắng. - SHOP: Cửa hàng lưu niệm, mua sắm. Biển (sea): Biển là yếu tố quan trọng để thu hút khách du lịch.
Những nơi nào có bãi biển đẹp, sạch sẽ là nơi du khách đổ xô về tắm biển, luớt ván, phơi nắng, nghỉ dưỡng. Việt Nam có một vị trí thuận lợi để phát triển du lịch biển, từ Bắc chí Nam, Việt Nam có hơn 2500 km bờ biển, với nhiều bãi biển nổi tiếng như Vũng Tàu, Nha Trang, Đà Nẵng, Cửa Tùng và có nơi là kỳ quan của thế giới như Vịnh Hạ Long. Ngoài những bãi biển nổi tiếng trên, Việt Nam còn có rất nhiều bãi biển đẹp nhưng chưa được khai thác. Đây là thế mạnh, là tiềm năng dồi dào để phát triển ngành du lịch trong tương lai.
Mặt trời (sun) Đối với khách du lịch quốc tế, yếu tố mặt trời, ánh nắng rất quan trọng. Là những người ở xứ lạnh, ít khi thấy ánh nắng mặt trời, vào những mùa mưa, nhiệt độ rất thấp và lạnh, ít người đi du lịch vào mùa này. Vì vậy họ thường tìm đến những vùng nắng ấm để tắm và sưởi nắng. Ở Việt Nam, miền Bắc và miềm Trung, mỗi năm chia ra làm 4 mùa rõ rệt.
Riêng ở miền Nam chỉ có 2 mùa: Mùa mưa và mùa nắng.