mở đầu tác phẩm này: “Làng ở trong tầm đại bác của đồn giặc, đã thành lệ, mỗi ngày hai lần, hoặc buổi sáng sớm và xế chiều, hoặc đứng bóng và sẩm tối, hoặc nửa đêm và trở gà gáy. Hầu hết đạn đại bác đều rơi vào ngọn đồi xà nu cạnh con nước lớn. Cả 12 rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào không bị thương. Có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình, đổ ào ào như một trận bão.
Ở chỗ vết thương, nhựa ứa ra, tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt, rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quyện thành từng cục máu lớn” [11, tr38]. Rừng xà nu là hình ảnh mà tác giả sử dụng để chỉ những con người Tây Nguyên. Giặc Mĩ tàn phá rừng xà nu cũng chính là tàn phá cuộc sống của những con người nơi đây. Đọc tác phẩm, người đọc không thể quên được hình ảnh của cụ Mết, Tnú và nhiều nhân vật khác.
Ở những con người này sáng bừng lên chủ nghĩa yêu nước chân chính. Trong truyện ngắn của Triều Ân, người đọc cũng có thể dễ dàng nhận thấy những trang viết về chiến tranh. Chiến tranh đã gây ra biết bao thảm cảnh cho cuộc sống của nhân dân miền núi. Truyện ngắn Bà mẹ Tày đã phản ánh mâu thuẫn gay gắt giữa đồng bào miền núi với bọn phát xít Nhật.
Có những ngày lí trưởng và quan Tây đến bắt dân dồn bản ở tập trung không một ai cưỡng nổi. Có người phải đút lót nhưng không được. Bố của Tháo căm tức quá đã vác thanh kiếm lên đồn Tây. Ngay hôm đó, bọn Tây dong cụ về bản rồi đưa ông cụ lên đồi bắn.
Với bọn phát xít tàn ác, chúng không coi mạng người ra gì. Chúng thẳng tay chém giết dân tộc ta không chút thương tiếc. Những đồng bào bị chúng tàn sát đẫm máu mãi ra đi mang trong mình mối hận thù chưa trả được. Không chỉ có người khuất mà những người ở lại cũng đau đớn, xót xa bội phần.
Mẹ của Tháo khi nghe tin ông cụ bị bắn đã bị “máu lên đầu” đột ngột. Nguyên nhân gián tiếp gây lên cơn “máu lên đầu” ấy cũng chính là do sự tàn ác của bọn giặc. Nợ ấy, thù ấy chưa trả thì người khuất chưa thể nhắm mắt, người ở lại chưa thể cảm thấy thanh thản được. Với truyện ngắn Hương sen trích trong tập Đường qua đèo mây, Triều Ân đã dựng lên một khung cảnh hoang tàn, đổ nát của chiến tranh.
Hương làm trong trại lợn là con người hết lòng vì tập thể, chị cũng như bao người khác đặt lợi ích tập thể lên hàng đầu. Khi giặc về quê hương tàn phá, Hương cùng mọi người lùa đàn lợn vào rừng sâu. Sau gần một tháng trời đi sơ tán xa quê hương, chị đã trở về làng. Thông qua cái nhìn của nhân vật Hương, tác giả đã nói lên những thảm cảnh mà chiến tranh đã gây ra cho con người nơi đây: “Đi vào ngõ, trời ơi, chị trông rõ cái nhà chỉ còn là một đống tro tàn.
Khói còn bay lên từ đống dấm âm ỷ. Hương không 13 muốn tin đó là sự thật. Chị quay trở ra, nhìn sang khu vực khác, thấy cùng một quang cảnh như thế. Đây là sự thật của chiến tranh” [18, tr167].
Phải chăng chiến tranh là sự tàn phá không thương tiếc? Biết bao con người, bao ngôi nhà, làng mạc đã không còn nữa khi chiến tranh đi qua. Chỉ với mấy câu văn thật ngắn gọn và dễ hiểu, Triều Ân đã lên án sâu sắc chiến tranh, chính chiến tranh đã đẩy con người ta đến ngõ cụt của cuộc đời. Ngay cả Lượng - một anh đồ tể mà chính Hương còn thấy “ghê tởm” cũng từng nói: “Mẹ Cam có biết chiến tranh là gì không? Mất hết” [18, tr169]. Lời nói của Lượng đã phản ánh phần nào bản chất của chiến tranh.
Yến trong tác phẩm Trong tiếng sa quay là một nạn nhân trực tiếp của chiến tranh. Chiến tranh đã gây lên bi kịch trong cuộc đời của cô. Nó đã cướp đi của Yến những điều tưởng như bình dị nhất. Từ chuyện báo tử nhầm, cô tưởng Thảo đã hi sinh, cô đi bước nữa.
Tất cả mọi vấn đề trong gia đình Yến cũng bắt đầu nảy sinh từ đây. Xây dựng nên bi kịch cuộc đời Yến, tác giả một lần nữa lên tiếng tố cáo chiến tranh. Chính chiến tranh đã đẩy cô vào hoàn cảnh khó xử như vậy. Nếu không có chiến tranh thì Thảo đâu phải xa vợ lên đường ra chiến trận, sẽ không có chuyện báo tử nhầm.
Trong hoàn cảnh ấy, Tùng đã quyết định ra đi để Thảo quay về bên Yến. Cứ tưởng rằng cuộc đời Yến từ đây sẽ không còn khổ đau nữa nhưng chiến tranh ác nghiệt kia đã cướp đi của Thảo đôi mắt sáng. Giờ đây, Thảo chỉ biết ở nhà quay sa kéo sợi cho hợp tác xã lấy công điểm. Như vậy, với các truyện ngắn của mình, Triều Ân đã lên án sâu sắc chiến tranh phi nghĩa đã gây ra bao thảm cảnh cho cuộc sống và con người miền núi.
Đây là một trong những khía cạnh làm nên giá trị hiện thực đặc sắc trong truyện ngắn của Triều Ân. Xung đột lịch sử - dân tộc mà Triều Ân xây dựng nên trong tác phẩm của mình vừa mang nét chung, vừa mang nét riêng. Xung đột ấy là của những con người miền núi nhưng cũng là xung đột muôn thủa trong số phận con người tự bao đời nay. Cuộc đấu tranh xây dựng lối sống mới, xóa bỏ lối sống lạc hậu Với cách suy nghĩ còn lạc hậu, người dân miền núi chưa thể hiểu được sự cần thiết của việc xây dựng lối sống định canh định cư.
Họ luôn nghĩ rằng phải di canh di cư mới làm ăn được. Cuộc sống đối với họ theo tư tưởng ấy hết năm này 14 qua năm khác, hết thế hệ này đến thế hệ khác vẫn đắm chìm trong nghèo đói. Họ chưa thấy được “định cư mới định canh, định canh mới định cư là thế nào” [18, tr122]. Truyện ngắn Mây tan mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Truyện đã phản ánh được một hiện thực phổ biến ở miền núi không chỉ lúc bấy giờ mà hiện nay ít nhiều vẫn còn tồn tại, đó là lối sống di canh di cư của người dân tộc. Trong những con người miền núi đó, thầy mo Phya đã cổ vũ cho lối sống lạc hậu này. Vì sao thầy mo lại có tư tưởng như vậy? Đó phải chăng cũng bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết, hay nói đúng hơn là sự mê tín dị đoan của một bộ phận người dân tộc thiểu số lúc bấy giờ. Chính những hủ tục lạc hậu này đã đẩy con người đến cuộc sống tối tăm, không lối thoát.
Piao - người làm công cho nhà Chẹ Tàn đã hiểu được nhiều điều từ lời giảng giải của cán bộ Thông. Anh đã truyền đạt lại những điều mình hiểu cho Chẹ Tàn và bố của cô là ông Phin biết. Ban đầu, ông Phin không nghe Piao mà lại theo thầy mo Phya, nhưng sau đó ông đã hiểu và chuyển xuống bản Nai Chơi định canh định cư cùng mọi người. Sinh ra và lớn lên tại vùng đất cách mạng Cao Bằng, Triều Ân có điều kiện tiếp nhận hiện thực nơi đây một cách sâu sắc.
Không phô trương, cách biệt và xa lạ mà hiện thực trong sáng tác của Triều Ân có tính thực tế cao. Ông đã bám sát hiện thực cuộc sống để đưa hiện thực đó vào trang viết của mình. Khi phản ánh hiện thực, dù hiện thực đó tốt hay xấu, cần phát huy hay đáng lên án thì Triều Ân bao giờ cũng đưa ra quan điểm của bản thân. Viết về cuộc đấu tranh xây dựng lối sống định canh định cư, ông luôn tỏ thái độ ủng hộ đối với lối sống này.
Đây cũng chính là một trong những chính sách đang được Đảng và nhà nước ta quan tâm. Hiểu và bắt nhịp kịp thời với chính sách đó, Triều Ân cũng thật sâu sắc trong cách phản ánh hiện thực lúc bấy giờ. Nếu như truyện ngắn Mây tan là cuộc đấu tranh xây dựng lối sống định canh định cư thì ở Bên bờ suối Tiên, Triều Ân cũng phản ánh hiện thực cuộc sống nhưng nhìn theo một góc độ khác. Bên bờ suối Tiên lại là cuộc đấu tranh của Lý Thị Lìn - người con gái họ Lý mong muốn hai làng Pác Lủng Thượng và Pác Lủng Hạ hợp nhất thành một hợp tác xã để công việc làm ăn của bà con hai làng được 15 thuận lợi hơn.
Chính sách hợp nhất hai làng thành một hợp tác xã được đưa ra. Ban đầu còn nhiều người phản đối: “- Không thể liên hiệp với nhau được. - Đúng đấy, hợp tác xã mình toàn ruộng tốt, ruộng họ xấu lắm. Hằng năm không chịu bón phân, hừ!” [17, tr36].
Nếu ai cũng mang tư tưởng như những con người này thì cuộc sống bao giờ mới có thể tiến lên được? Lý Thị Lìn đã không quản ngại gian khó, chị đã đấu tranh chống lại những tư tưởng lạc hậu đó. Sự chia rẽ, hiềm khích giữa các bản làng, dân tộc chính là hậu quả của chính sách “chia để trị” của bọn phong kiến thực dân. Phản ánh hiện thực này, Triều Ân đã lên án gián tiếp chế độ phong kiến thực dân cũ đã gây ra biết bao hậu quả, đẩy con người tới vòng ngu muội. Thế nhưng, con người miền núi mới bây giờ đâu có chịu sống mãi trong vòng tối tăm ngu muội ấy, Lìn đã đấu tranh cho lẽ sống đúng đắn.
Chị phát biểu trước cuộc họp, chị giải thích cho mọi người hiểu về vấn đề hợp nhất hợp tác xã: “Phân đoàn thanh niên chúng cháu đã bàn bạc đều thấy liên hợp là phải… những câu chuyện đánh nhau, thù ghét nhau là chế độ cũ rồi…Hồi đó lý trưởng nó xui chúng mình đánh nhau, chứ chúng mình có bao nhiêu ruộng mà phải tranh nhau nước?” [17, tr44]. Từng lời nói của Lìn như thấm sâu vào tâm trí mọi người. Họ đã hiểu ra vấn đề. Tuy còn một số phần tử “con sâu bỏ dầu nồi canh” nhưng đa số mọi người đã nhất trí liên hợp.
Triều Ân tỏ ra rất am hiểu lối sống và cách suy nghĩ của người dân tộc thiểu số lúc bấy giờ. Để có được vốn kinh nghiệm ấy, chắc chắn Triều Ân phải là con người có tình yêu quê hương và dân tộc sâu sắc. Không chỉ dừng lại ở hiện thực bên ngoài mà truyện ngắn của Triều Ân còn đi sâu vào ngõ ngách bên trong tư tưởng của người miền núi. Ông chú ý phê phán tư tưởng tư lợi của lối làm ăn cũ.
Mẹ của Sảo trong truyện ngắn Hai mẹ con tuy sống trong tập thể nhưng lại mang tư tưởng cá nhân ích kỉ.