CHƯƠNG 1: Tổng quan tài liệu.5 CHƯƠNG 2: Đối tượng - phương pháp nghiên cửu.22 CHƯƠNG 3: Kết quả nghiên cứu. Phần nghiên cứu định lượng.Thông tin chung. Thực trạng về sức khóe bệnh tật. Thực trạng - nhu cầu sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh.
Thực trạng nhu cầu sử dụng dịch vụ tư vấn sức khỏe. Phần nghiên cứu định tính.52 CHƯƠNG 4: Bàn luận.55 CHƯƠNG 5: Kết luận.72 CHƯƠNG 6: Khuyến nghị.74 Tài liệu tham khảo.79 -1- ĐẶT VÂN ĐỀ Theo qui định của Tổ chức y tế thế giới (WHO) độ tuổi trên 60 được gọi là người cao tuổi. Chất lượng cuộc sống ngày càng tốt hơn, cùng với những thành tựu đạt được của y học nên tuổi thọ của con người ngày càng được nâng cao. Chính vì thê số người cao tuổi trên thế giới ngày càng nhiều.
Liên hợp quóc dự báo th ế ký 21 là thế kỷ già hóa. Tính tới năm 2002 số người trên 60 tuổi trên thế giới trên 600 triệu. Hiện có khoảng 390 triệu người già ở các nước đang phát triển. Theo dự báo, chưa đầy 3 thập kỷ tới số lượng sẽ tăng lên trên 1 tỷ.
Tình hình đó đặt ra nhiều vân đề về kinh tế xã hội và chăm sóc sức khỏe đối với lớp người cao tuổi hiện nay. Chăm sóc sức khỏe cho NCT thực sự là vấn đề y tế công cộng cần có sự phối hợp của nhiều cơ quan chức năng khác nhau chứ không riêng của ngành y tế. Các nước phát triển đã có thời gian đế lập ra các dịch vụ cho người già, trong khi đó các nước đang phát triển phái đương đầu với sô' lượng người già đang tăng lèn một cách nhanh chóng. Thụy Điển, Pháp, Nhật Bán.
Singapo là những nước có tý lệ người cao tuổi vào loại cao nhất thế giới. Nếu như tính chi phí chăm sóc sức khóe ở Nhật Bản, năm 1975, khi tỷ lệ người 60 tuổi trở lên chỉ chiếm khoảng 8,5%, họ chi sử dụng hết 10% tóng số chi phí y tế. Tuy nhiên sau 20 năm (1995), khi tý lệ người già tãng lên 20% thì chi phí y tế cho người già đã chiếm tới 1/3 tổng số ngân sách dành cho y tế. Các nhà khoa học ước tính chi phí chăm sóc sức khỏe cho một người cao tuổi gấp 5 lấn so với những người ở nhóm tuổi khác.
Các chuyên gia Nhật Bản đã cho rằng vấn dề già hóa sẽ trở nên cấp bách trong vòng 10-20 năm tới, Nhật Bản phái nhanh chóng đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng để đối phó với tình trạng cứ 4 người thì có 1 cụ già sau này[l-trl7,18,19]:. Hội nghị Quốc tế về vãn đề Người già đã tổ chức tại Viên (năm 1982) và tại Madrid (nãm 2002). Hội nghị đã thông qua Chương trình hành động quốc tế chàm sóc người cao tuổi. Đó là một loạt các khuyến nghị về chính sách và giai pháp cho các quốc gia đáp ứng với tỷ lệ người cao tuổi ngày càng tăng.
Nội dung chính cua chương trình hành động đề cập đến khía cạnh sức khỏe, nhà ờ, môi trường, gia đình, bảo trợ xã hội, việc làm, công tác thông tin cho người cao tuổi. Năm 2000, Đại hội -2- đồng Liên hợp quốc đã quyết định lấy ngày 1 tháng 10 hàng năm làm ngày Quốc tê người cao tuổi. Năm 1999, ủy ban Kinh tê' xã hội Châu á Thái Bình Dương (ESCAP) đã họp đề ra chương trình hoạt động vì người cao tuổi trong khu vực. Khu vực này là nơi tập trung quá nửa tổng số người cao tuổi toàn thế giới, lại có đặc điểm khác Châu Âu là có nhiều vùng nông thôn đang phát triển.
Do đó, các nước trong khu vực phái quan tâm đặc biệt đến người cao tuổi ở khu vực nòng thôn [l-tr236]:, Cách đây nửa thế ký, năm 1950, tuổi thọ trung bình của Việt nam là 40 tuổi thì đến năm 1999 thì tuổi thọ trung bình đã đạt là 66 tu ổi. T ống sô' ng ười già trên 60 tu ổi cũng tãng gấp 5 lần: tới gần 6 triệu người. Số người già chiêm khoáng 8,2% dân s ố trong cu ộc tổng điều tra dân số năm 1999. Theo dự báo của Quỹ dân số liên hợp quốc, với tốc độ tăng trưởng dân số như hiện nay cùng với các diều kiện kinh tẽ chính tr ị ổn đ ịnh thì đ ến năm 2024 dân số Việt nam sẽ đạt mốc 100 triệu dân, sò người già chiếm khoảng 13%, tập trung chủ yếu là các vùng nông thôn [ I-trl03]:.
Già không phải là một bệnh nhưng già lạo điều kiện cho bệnh tật phát sinh và phát triển. Bệnh ở NCT thường mãn tính. Tính chất bệnh ở người cao tuổi là tính chất đa triệu chứng, đa bệnh lý. Vì vậy, khám chữa bệnh khi đau ốm, chăm sóc sức khỏe khi về già là nhu cầu chính đáng của người cao tuổi.
NCT đang sống ở khu vực nông thôn so với các cụ ớ đò thị. họ được đánh giá là những người có nhiều khó khăn hơn về điều kiện vật chất. Điều kiện khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cùa họ không được như các cụ ở thành thị. Sức khóe của NCT nói chung là yếu, với NCT ớ nồng thôn thì tình trạng sức kh ỏe kém và kém h ơn các c ụ ở thành phố.
Theo một nghiên cứu điều tra sức khỏe NCT trên 4 vùng địa dư cho thấy [l-trlO3]: Các đối tượng sống ở miền núi, miền biển và đồng bằng có kết quả phân loại sức khỏe gần giống nhau, phần lớn các cụ có sức khỏe trung bình, tỷ lệ đạt sức khỏe tốt rất thấp. So với các cụ ở thành thị thì rõ ràng tinh hình sức khỏe các cụ ở thành th ị có s ức khóe t ốt h ơn. T ại nghiên cứu này cho thấy vùng nóng thôn nói chung ở lứa tuổi 70-74 khoảng 50% NCT có sức khóe kém. Nhung tại thành thị tới tuổi 75-79 chí có 6,6% cụ óng và 14,3% cụ bà là có sức khỏe kém.
Hơn nữa tỷ lệ NCT ớ nông thôn được xếp vào diện nghèo hoặc rất nghèo là tương dõi cao. Một cuộc điều tra NCT tại tính Hái Hưng những năm 90 cho thấy: Điều kiện -3- sinh hoạt vật chất của người già (kể cả bộ phận còn phái trực tiếp sán xuất) ỏ' nông thôn còn rất thiếu thốn lương thực, kham khổ về thực phẩm. Các khoản thu chi đủ ăn tiêu tằn tiện. Các khoản chi khác, nhất là mua một số loại thuốc chữa bệnh thông thường, ti ền phục vụ cho một vài nhu cầu cá nhân khác, nhiều cụ không đáp ứng được,[7-trl01] Để tiến tới công bằng và hiệu quà trong chăm sóc sức khỏe nhân dân nói chung cũng như NCT nói riêng, xóa bỏ khoảng cách nông thôn và đô thị là một trong những mục tiêu trong chiến lược của ngành y tế nói riêng cũng như của loàn xã hội nói chung.
Gia Lâm là một huyện ngoại thành Hà Nội, có 4 th ị tr ấn và 31 xã. Dân s ố trên toàn huyện trên 34 vạn. Trong đó số người trên 60 tuổi là 34176 chiêm khoảng 10. Hầu hết người cao tuổi đều sống ở vùng nông thôn.
Tại huy ện cũng đã tri ển khai m ột s ố chương trình chăm sóc sức khóe cho NCT như: hàng năm tổ chức khám sức khỏe định kỳ vào ngày 1/10; 27/7; tổ chức một số phong trào luy ện t ập th ể d ục th ế thao. Nh ưng qua cuộc phỏng vấn đồng chí Chủ tịch UBMTTQ huyện, đó mới chí mang tính chất phong trào hàng năm, huyện cũng chưa biết thực trạng khám chữa bệnh và tư vấn sức khỏe cũng như nguyện vọng của các cụ ra sao, để có kế hoạch cho công tác chăm sóc s ức kh ỏe cho NCT trên địa bàn được tốt hơn. Vậy thực sự hiện nay người cao tuổi khu vực nông thôn khám chữa bệnh và được tư vấn sức khỏe như thế nào, họ có nguyện vọng thế nào, các dịch vụ khám chữa bệnh, tư vấn sức khỏe đã đáp ứng dược những nhu cẩu cùa NCT đến mức độ nào. Đó là câu hỏi mà những nhà hoạch định chính sách cũng như lãnh đạo y tế quan tâm và tìm ra l ời gi ải đáp nhằm phục vụ tốt cho còng tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho l ớp NCT t ại c ộng đ ồng.
Tại huyện Gia Lâm chưa có một nghiên cứu nào về vấn đề này. Chính vì thế chúng tôi cùng phối hợp với TTYT Gia Lâm, ủy ban MTTQ huyện Gia Lâm thực hiện đề tài “Thực trạng sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh và tư vấn sức khỏe của người cao tu ổi khu v ực nông thôn huyện Gia Lâm, Hù Nội 2003". MỤC TIÊU NGHIÊN cứu 1. Mục tiêu chung Mô tả thực trạng tiếp cận, sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh và tư vấn sức khỏe cua người cao tuổi sống tại khu vực nông thôn huyện Gia Lâm, Hà Nội.
Tìm ra nhu cầu sứ dụng dịch vụ khám chữa bệnh và tư vấn sức khỏe cúa người cao tuối. Trên c ơ s ớ đó đ ề ra nh ững khuyến nghị cho công tác khám chữa bệnh và chăm sóc sức khóe cho người cao tuổi trên địa bàn. Mục tiêu cụ thê 2. Mô tả hiện trạng sức khỏe của người cao tuổi vùng nông thồn huyện Gia Lâm.
Mô tá thực trạng sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh và t ư vấn sức khóe c ủa ng ười cao tuổi vùng nông thôn huyện Gia Lâm. Xác định một sô' nhu cầu sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh và tư vấn sức khóe của người cao tuổi vùng nông thôn huyện Gia Lâm. Đề xuất một sô' khuyến nghị cho công tác khám chưa bệnh và tư vấn sức kho ẻ cho người cao tuổi trên địa bàn. -5- CHƯONG l: TÓNG QUAN TÀI LIỆU I.
MỘT Số KHÁI NIỆM 1. Khái nièni sức khóe Có rất nhiều khái niêm về sức khỏe. Theo định nghía cua tổ chức y tẽ thế giới (WHO) thì: “Sức khỏe là trang thái thoải mái về thể chất, tinh thắn và xã hội chứ không chỉ đơn thuần là không có bệnh tật và tàn phế”. Các yếu tô tác động đến sức khỏe Sức khỏe của con người được tạo nên khồng những bởi các thế chế pháp luật, kinh tế và xã hội.
là những cơ sở đã hình thành nên xã hội cùa họ. mà còn bời môi trường vật chất, xã hòi, những thứ đã tao diều kiện cho họ sõng học tâp và lao đóng. Chi trong khuôn khổ này họ mới có cơ hội để thay đổi các hành vi cưa mình. Khái niêm người cao tuổi Người cao tuổi (NCT-người già) dựa theo tiêu chưấn cùa Liên hiệp quốc dưa ra và cũng dã dược xác lập trong Pháp lệnh người cao tuổi của nước CHXHCN Việt Nam: đó là nhũng người có độ tuổi từ 60 trở lên.