Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Khái niệm, đặc điểm nguồn lực tài chính từ đất đai 1. Khái niệm nguồn lực tài chính từ đất đai Hiện có nhiều quan điểm về nguồn lực tài chính từ đất đai.
Theo cách hiểu thông thường thì nguồn lực tài chính từ đất đai là nguồn lực tài chính huy động được từ các giao dịch đất đai giữa các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế thị trường và chịu sự chi phối của chế độ sở hữu đất đai (Trần Quang Huy, Nguyễn Thị Dung, 2016). Trong nền kinh tế thị trường, nguồn lực tài chính được hiểu là nguồn thu bằng tiền của một chủ thể kinh tế nào đó. Các nguồn thu bằng tiền thường phát sinh do có các giao dịch như bán hàng hóa, cho thuê tài sản, thu lợi từ đầu tư, thu nợ… Ở Việt Nam, do chế độ sở hữu toàn dân về đất đai quy định, đất đai không phải là hàng hóa, không được trao đổi mua bán, chỉ có QSDĐ là hàng hóa và được giao dịch trên thị trường bất động sản theo những nguyên tắc nhất định như giới hạn quy mô SDĐ theo mục đích, hạn điền, quy hoạch SDĐ của Nhà nước; Cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao và thu hồi đất theo giá nhà nước. Theo Luật Đất đai, cơ chế thực hiện quyền sở hữu toàn dân đã chia quyền chủ sở hữu đất cho hai chủ thể khác nhau cùng nắm giữ là cơ quan thay mặt nhà nước quản lý đất đai và người SDĐ.
Vì thế, luôn có hai loại chủ thể hưởng thụ nguồn tài chính phát sinh từ đất. Người SDĐ, trong thời hạn SDĐ được cơ quan nhà nước giao, làm chủ nguồn lực tài chính khi chuyển nhượng, cho thuê QSDĐ. Trong trường hợp cơ quan nhà nước thu hồi QSDĐ của người SDĐ trước thời hạn, người SDĐ được nhà nước đền bù theo giá nhà nước và được hỗ trợ tái định cư. Cơ quan nhà nước quản lý đất đai có quyền thu thuế SDĐ, thuế chuyển nhượng QSDĐ, thu tiền giao đất và tiền thuê đất, thu lệ phí từ dịch vụ quản lý đất đai.
Nguồn tài chính huy động từ đất này được đưa vào NSNN. Ở Việt Nam, chính sách huy động nguồn tài chính từ đất đai vào NSNN được gọi là chính 6 sách tài chính đất đai. Trong khuôn khổ luận văn này, chỉ đề cập đến nguồn lực tài chính do chính sách tài chính đất đai của Nhà nước huy động vào NSNN, không đề cập đến nguồn lực tài chính từ đất đai do người SDĐ khai thác. Khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai là việc các cơ quan nhà nước đề ra và thực thi các chính sách nhằm huy động nguồn lực tài chính hình thành từ các giao dịch và sử dụng đất đai vào NSNN để phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
Từ khái niệm trên có thể thấy nội hàm khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai bao gồm: Thứ nhất, huy động nguồn lực tài chính từ đất đai là hoạt động tích tụ, tập trung nguồn lực tài chính có nguồn gốc từ đất đai vào NSNN thông qua các hình thức thu tiền SDĐ, cho thuê đất, thu từ vốn liên doanh bằng đất, thu phí địa chính. Thứ hai, huy động nguồn lực tài chính phải thông qua các quan hệ kinh tế như mua, bán, trao đổi QSDĐ,. trên thị trường bất động sản theo cơ chế thị trường và chính sách của Nhà nước. Thứ ba, huy động nguồn lực tài chính từ đất đai phải nhằm mục tiêu chung là phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, quốc gia.
Đặc điểm của nguồn lực tài chính từ đất đai Khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai ở Việt Nam có những đặc điểm cơ bản sau đây: - Khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai luôn gắn với quan hệ sở hữu toàn dân về đất đai Muốn đất đai đem lại lợi ích dưới hình thái tiền tệ thì Nhà nước phải nắm được quyền chi phối về đất đai. Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở Việt Nam đã trao cho Nhà nước một số quyền của chủ sở hữu đất như: Thay mặt toàn dân giao đất lần đầu có thu tiền SDĐ cho người sử dụng; cho thuê đất công; thu hồi đất theo mục đích SDĐ có giá cả thấp, chuyển mục đích SDĐ sang phân khúc thị trường có giá cả cao và hưởng chênh lệch giá. Cơ sở để thu phần chênh lệch giá này vào NSNN là do chế độ sở hữu toàn dân quy định: địa tô chênh lệch phải thuộc về toàn dân, phục vụ lợi ích chung dưới 7 hình thái NSNN. Ngoài ra, với tư cách cơ quan công quyền, Nhà nước ta có quyền đánh thuế SDĐ và thuế thu nhập cá nhân từ thu nhập phát sinh do người SDĐ đất bán QSDĐ, thu phí từ dịch vụ công về đất đai… - Khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai phải phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường Đất hoặc quyền của chủ sở hữu đất chỉ có thể chuyển thành tiền trên thị trường bất động sản theo nguyên tắc thị trường.
Mặc dù Nhà nước Việt Nam giữ độc quyền xác định giá trong giao dịch với các chủ thể dân sự khác, nhưng phương pháp xác định giá QSDĐ, giá thuê đất phải phù hợp với cơ chế hình thành giá QSDĐ trên thị trường. Ngoài ra, các loại thuế thu từ SDĐ và chuyển nhượng QSDĐ cũng phải tuân thủ nguyên tắc thị trường. Bất kỳ chính sách tài chính nào không phù hợp với cơ chế thị trường sẽ làm biến dạng thị trường, giảm mức độ hiệu quả trong điều tiết của thị trường, thậm chí các chính sách không phù hợp với cơ chế thị trường sẽ bị thị trường vô hiệu hóa. - Khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai phụ thuộc trực tiếp vào hệ thống chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam Ở Việt Nam, chính sách và luật pháp chế định đất đai khá phức tạp, từ những quy định về SDĐ theo quy hoạch đến xác định giá đất nhà nước theo mục đích sử dụng trong thu hồi đất, giao đất… Chính sách và pháp luật về đất đai càng phức tạp, việc khai thác nguồn lực từ đất đai càng đòi hỏi phải theo các quy trình và thủ tục phức tạp tương xứng.
Hơn nữa, do đất đai là tài nguyên khan hiếm đặc biệt, bị giới hạn về diện tích và vị trí trên vỏ trái đất, không thay thế được cho nhau, nên việc khai thác nguồn lực từ đất đai còn phụ thuộc vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi trong quy hoạch, kế hoạch SDĐ, ảnh hưởng rất lớn đến nguồn thu NSNN từ đất. Sự điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng từng loại đất sẽ làm thay đổi quy mô và tiến độ huy động nguồn lực tài chính từ đất đai vào NSNN. Chính sách giá đất của nhà nước 8 ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô nguồn lực tài chính huy động vào NSNN từ đất đai (Trần Quang Huy, Nguyễn Thị Dung,2016).
Mục tiêu khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai - Huy động nguồn lực tài chính góp phần phát triển kinh tế - xã hội Đất đai được xác định là nguồn lực tài chính quan trọng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội đất nước, bảo đảm an sinh xã hội. Việc khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch; đảm bảo lợi ích trước mắt cũng như lâu dài; tiết kiệm, hiệu quả; xử lý hài hòa lợi ích giữa Nhà nước và các đối tượng có liên quan. Chính sách khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai, tài sản nhà nước, tài sản kết cấu hạ tầng phải thực hiện theo nguyên tắc thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, đảm bảo công khai, minh bạch và phát triển bền vững. Nguồn lực tài chính từ đất đai phản ánh kết quả của việc thực hiện lợi ích kinh tế của Nhà nước, bởi vì Nhà nước là chủ thể duy nhất có khả năng làm đại diện cho toàn dân nắm quyền sở hữu về đất đai.
Với vị trí đó, Nhà nước nhất thiết phải thực hiện được lợi ích kinh tế từ quyền sở hữu đó. Việc động viên các nguồn tài chính từ đất thông qua quan hệ giữa Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu với các chủ thể khác trong xã hội, thực chất là Nhà nước thực hiện lợi ích của xã hội. Quyền sở hữu về đất đai chỉ thực sự có ý nghĩa khi quyền đó đem lại lợi ích kinh tế thực sự cho chủ sở hữu. Lợi ích kinh tế được biểu hiện thành những nguồn tiền mà Nhà nước huy động được trên đất thông qua việc giao đất cho các chủ thể trong nền kinh tế.
Về mặt nguyên lý, chế độ sở hữu đất đai của nước ta là không thừa nhận đất đai thuộc sở hữu tư nhân cho nên lợi ích từ nguồn lực tài chính từ đất đai mà chủ thể sở hữu khai thác phải được phục vụ cho lợi ích của nhân dân, điều này phù hợp với bản chất của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. - Góp phần thúc đẩy các tổ chức, cá nhân sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn lực đất đai Việc khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai sẽ được thể hiện khi các chủ thể sử dụng đất thực thi trách nhiệm, nghĩa vụ tài chính đối với chủ sở hữu. Khi đó, việc khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai của chủ sở hữu sẽ có tác 9 dụng đòn bẩy lợi ích kinh tế thúc đẩy, kích thích các chủ thể sử dụng đất hiệu quả hơn. Dù muốn hay không muốn, các chủ thể phải sử dụng một cách tiết kiệm, không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tiến tới sử dụng đất bền vững để một mặt thực hiện được lợi ích của mình từ việc sử dụng đó, mặt khác phải có một nguồn lực đủ để thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với chủ thể sở hữu là Nhà nước.
Việc sử dụng đất bền vững trở thành chiến lược quan trọng và cũng là mục tiêu trong khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai. Việc xác định các khoản thu từ đất một mặt đóng góp NSNN, mặt khác, cũng là cơ sở để Nhà nước kiểm soát quá trình SDĐ, trong khi quỹ đất có hạn, nhu cầu SDĐ tăng cao, chất lượng đất đang bị thoái hóa, ô nhiễm gây tình trạng giảm, mất khả năng sản xuất.