Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Thực trạng và giải pháp khai thác lễ hội Đền Nghè phục vụ du lịch tại thành phố Hải Phòng" được thực hiện bởi sinh viên Văn Thị Hà, chuyên ngành Văn hóa du lịch (ngành Việt Nam học), Trường Đại học Quản lý và Công nghệ Hải Phòng dưới sự hướng dẫn của ThS. Vũ Thị Thanh Hương vào năm 2019.
Nữ tướng Lê Chân (sinh năm 20, mất năm 43) là nữ tướng tiêu biểu trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, đồng thời là người có công khai phá vùng đất ven biển An Dương - cửa sông Cấm, lập nên trang An Biên, đặt nền móng sơ khởi cho sự hình thành và phát triển của đô thị Hải Phòng ngày nay. Để ghi nhớ công đức của bà, nhân dân địa phương tổ chức lễ hội truyền thống nhân dịp ngày Thánh Đản (ngày sinh mồng 8 tháng 2 Âm lịch), kéo dài từ ngày mồng 7 đến ngày mồng 9 hoặc mồng 10 tháng 2 Âm lịch hàng năm. Lễ hội diễn ra trên không gian liên kết gồm ba địa điểm: Đền Nghè (An Biên cổ miếu), Đình An Biên và Quảng trường tượng đài Nữ tướng Lê Chân thuộc địa bàn quận Lê Chân.
Trước năm 2011, do các biến động về kinh tế, lịch sử và quá trình đô thị hóa, lễ hội chỉ diễn ra trong phạm vi khuôn viên hẹp tại Đền Nghè và Đình An Biên, quy mô chủ yếu mang tính chất nội bộ địa phương. Từ năm 2011, UBND quận Lê Chân đã tổ chức hội thảo khoa học nhằm phục dựng toàn diện lễ hội cổ truyền, mở rộng không gian sang Quảng trường tượng đài Nữ tướng Lê Chân, tái hiện các nghi lễ cổ và trò diễn dân gian. Đến năm 2016, Lễ hội truyền thống Nữ tướng Lê Chân chính thức được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia. Sự gia tăng nhanh chóng về quy mô tổ chức và lượng khách tham dự đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc đánh giá thực trạng công tác tổ chức, bảo tồn di tích và quản lý lễ hội nhằm phục vụ cho sự phát triển du lịch bền vững của thành phố Hải Phòng.
Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể như sau:
- Tổng kết cơ sở lý luận chung và thực tiễn về du lịch, văn hóa, di tích lịch sử - văn hóa, lễ hội và lễ hội truyền thống.
- Nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng hệ thống di tích lịch sử - văn hóa và công tác tổ chức, quản lý lễ hội Đền Nghè.
- Đề xuất các định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, bảo tồn di tích và khai thác lễ hội Đền Nghè phục vụ hoạt động phát triển du lịch của thành phố Hải Phòng.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là di tích lịch sử - văn hóa và lễ hội Đền Nghè trong mối quan hệ với hoạt động phát triển du lịch. Phạm vi nghiên cứu về không gian tập trung tại ba điểm di tích và công trình tưởng niệm: Đền Nghè, Đình An Biên và Quảng trường tượng đài Nữ tướng Lê Chân (quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng). Phạm vi thời gian khảo sát thực trạng tập trung từ năm 2017 đến thời điểm hoàn thành khóa luận năm 2019, đồng thời kế thừa các chuỗi số liệu tổ chức lễ hội từ năm 2016 đến năm 2018.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên các khái niệm và văn bản quản lý nhà nước chuyên ngành:
- Khái niệm văn hóa: Tiếp cận theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin (C. Ăngghen), phân định thành văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần; khẳng định tính lịch sử, tính giai cấp và tính kế thừa của văn hóa trong sự phát triển xã hội.
- Khái niệm du lịch: Khái quát từ góc độ lịch sử và ngôn ngữ học ("To Tour", "Le Tour") và định nghĩa của nhà sử học Trần Quốc Vượng về bản chất của du lịch ("Du" là đi chơi, "Lịch" là lịch lãm, từng trải, hiểu biết).
- Khung pháp lý về di tích và lễ hội: Căn cứ các tiêu chí phân loại di tích theo Luật Di sản văn hóa; phân loại di sản phi vật thể theo Công ước UNESCO; các quy định về quản lý lễ hội tại Quyết định số 39/2001/QĐ-BVHTT của Bộ Văn hóa - Thông tin và Nghị định số 11/2006/NĐ-CP của Chính phủ (phân loại thành lễ hội dân gian, lễ hội lịch sử cách mạng, lễ hội tôn giáo/văn hóa du lịch).
- Điều kiện kinh tế - xã hội địa phương: Đặc điểm quận Lê Chân với 15 phường nội thành, mật độ dân cư cao, không còn đất nông nghiệp, tập trung phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp (450 doanh nghiệp tư nhân, 78 hợp tác xã, 3.000 hộ kinh doanh cá thể theo báo cáo năm 2016).
Tác giả sử dụng ba phương pháp nghiên cứu chính:
- Phương pháp khảo sát thực địa: Quan sát trực tiếp cảnh quan di tích và các hoạt động nghi lễ, trò chơi dân gian tại ba điểm khảo sát; thực hiện phỏng vấn sâu cán bộ quản lý (Phó Chủ tịch UBND quận Lê Chân - bà Trần Thị Hương Duyên, Trưởng phòng Văn hóa - Thông tin quận - bà Vũ Thị Việt Hà, nguyên Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Hải Phòng - ông Ngô Đăng Lợi) và người dân địa phương.
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Thu thập, đối chiếu các nguồn sử liệu thành văn (Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, An Biên thần tích bi ký, bia Văn hội bi kí tạo năm 1782) kết hợp phân tích các văn bản hành chính, kế hoạch tổ chức lễ hội năm 2019 của UBND quận Lê Chân.
- Phương pháp tiếp cận liên ngành: Kết hợp kiến thức văn hóa học, lịch sử học, xã hội học và kinh tế du lịch để phân tích giá trị di sản trong việc thúc đẩy kinh tế - xã hội địa phương.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Cơ sở lý luận chung và các điều kiện hình thành lễ hội đền Nghè
Chương I tập trung làm rõ hệ thống lý thuyết nền tảng, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội quận Lê Chân cùng lịch sử, truyền thuyết và giá trị của lễ hội:
- Thân thế Nữ tướng Lê Chân: Tương truyền quê tại làng An Biên (tên cổ là làng Vẻn, huyện Đông Triều, phủ Kinh Môn, nay thuộc Quảng Ninh). Do cự tuyệt Thái thú Tô Định, gia đình bị sát hại, bà xuôi về phương Nam lập căn cứ An Biên trang tại cửa sông Cấm, phát triển nghề trồng dâu, nuôi tằm, đánh bắt thủy hải sản và luyện rèn thủy binh. Gia nhập cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, lập nhiều chiến công, sau rút về Lạt Sơn (Kim Bảng, Hà Nam) và tuẫn tiết tại sông Giát Dâu. Dân làng thấy phiến đá thiêng trôi ngược dòng sông Tam Bạc đã rước về lập đền thờ tại xứ Đồng Mạ.
- Hệ thống công trình tưởng niệm:
- Đền Nghè (An Biên cổ miếu): Di tích cấp quốc gia, kiến trúc hiện nay được trùng tu từ năm 1924 đến 1927 dưới triều vua Khải Định, tôn tạo giai đoạn 2007–2009. Cấu trúc gồm Nghi môn (3 cửa), Tiền tế (tường hồi bít đốc, chồng rường con thuận), Tòa Thiêu hương, Hậu cung (3 gian, mái chồng diêm, khám thờ Nữ tướng và ban thờ song thân) và Giải vũ (tả vũ, hữu vũ). Lưu giữ nhiều hiện vật quý: bia thần tích, voi đá, ngựa đá, khánh đá, sập đá.
- Đình An Biên: Thờ Thành hoàng "Nam Hải Uy linh Thượng đẳng tôn thần Thánh Chân Công chúa", diện tích khoảng 3.000 m2 trên phố Hai Bà Trưng. Mặt bằng hình chữ Công (I) gồm 5 gian đại đình, 3 gian nhà cầu và 3 gian hậu cung, đặc trưng nghệ thuật điêu khắc thế kỷ XIX.
- Tượng đài Nữ tướng Lê Chân: Đặt tại trung tâm bờ sông Tam Bạc, khởi công ngày 30/11/1999, khánh thành ngày 31/12/2000. Tượng đúc bằng đồng nguyên khối cao 7,5 m (tổng chiều cao công trình 10,09 m), trọng lượng 19 tấn.
- Bốn giá trị tiêu biểu của lễ hội: Giá trị lịch sử (tri ân công đức tiền nhân mở cõi), giá trị tâm linh (cầu quốc thái dân an, hướng thiện), giá trị cố kết cộng đồng (liên kết làng xã và đô thị), và giá trị kinh tế - xã hội (quảng bá điểm đến, thúc đẩy dịch vụ).
Chương II: Thực trạng di tích và lễ hội Đền Nghè
Chương II đi sâu phân tích cấu trúc phần Lễ - phần Hội giữa truyền thống và hiện đại, cùng thực trạng công tác quản lý:
- Diễn trình Lễ hội cổ truyền:
- Phần Lễ: Bắt đầu ngày mồng 7/2 Âm lịch với Lễ Nhập tịch (vào đám); Lễ Mộc dục (lấy nước giữa dòng sông Tam Bạc để tắm thần tượng bằng ngũ vị hương); Lễ Cáo yết (lễ vật gồm 2 mâm xôi, 2 con gà). Lễ Tế Đền Nghè là nghi lễ trang trọng nhất, dùng "ông lợn" tế thánh nặng khoảng 70 kg do Cai đám nuôi dưỡng nghiêm ngặt; Lễ Mao huyết (tế máu và lông gáy lợn để tẩy uế); Ban tế gồm 17 người, tiến thoái theo hình chữ "á", thực hiện các tuần tế hoa, tế trà. Lễ rước kiệu từ Đền Nghè sang Đình An Biên gồm đầy đủ đội hình: cờ ngũ hành, trống cái, chiêng, chấp kích, bát biểu, biển "Tĩnh túc" - "Hồi tỵ", phường đồng văn, phường bát âm, kiệu hương, kiệu võng và kiệu thánh do 8 trai đinh khiêng.
- Phần Hội: Các trò chơi dân gian như vật đập đất, đánh phết (bắt nguồn từ Tam Nông - Phú Thọ, dùng gậy tre đánh quả cầu vào hố tròn sâu 40–50 cm), pháo đất, đánh cờ và hội thi hoa Thủy Tiên cánh trắng (duy trì thường niên giai đoạn 1920–1943).
- Diễn trình Lễ hội hiện đại:
- Phần Lễ: Lễ Khai mạc tổ chức tối mồng 8/2 Âm lịch tại chân tượng đài. Lễ rước bộ huy động hơn 1.000 người chia thành 2 đoàn: Đoàn 1 từ Đền Nghè qua phố Lê Chân - Mê Linh - Nguyễn Đức Cảnh - Quán Hoa - Quang Trung; Đoàn 2 từ Đình An Biên qua phố Hai Bà Trưng - Cát Cụt - Nguyễn Đức Cảnh về hợp tại tượng đài.
- Phần Hội: Điểm nhấn là không gian "Chợ quê" (tái hiện Chợ Vẻn và góc Chợ Hàng với các món ăn đặc trưng miền biển, hát xẩm, viết thư pháp), giải chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân, biểu diễn võ dân tộc, cờ người, hội thi "Duyên dáng Lê Chân".
- Thực trạng công tác quản lý và kiểm tra:
- Phân công phối hợp: UBND quận Lê Chân phân công rõ trách nhiệm cho Văn phòng UBND, Phòng Văn hóa - Thông tin, Công an quận (phân luồng giao thông trên các tuyến Hai Bà Trưng, Cát Cụt, Nguyễn Đức Cảnh), Ban Chỉ huy Quân sự, Phòng Y tế, Phòng Giáo dục & Đào tạo, Phòng Quản lý đô thị và UBND 15 phường.
- Quản lý tài chính: Nguồn thu từ công tác xã hội hóa giai đoạn 2016–2018 đạt từ 15 đến 16 tỷ đồng, nộp về Phòng Tài chính - Kế hoạch quận quản lý theo đúng nguyên tắc tài chính công, giúp hạn chế tối đa việc sử dụng ngân sách nhà nước. Tiền giọt dầu, công đức được kiểm đếm với sự giám sát chặt chẽ giữa chính quyền và đại diện cộng đồng di tích.
| Nội dung so sánh |
Lễ hội truyền thống (trước 1945) |
Lễ hội phục dựng hiện đại (2016–2019) |
| Không gian tổ chức |
Đền Nghè và Đình An Biên |
Đền Nghè, Đình An Biên và Quảng trường Tượng đài Lê Chân |
| Chủ thể tổ chức |
Ban hành lễ gồm các cụ cao tuổi, chức sắc hàng Tổng/xã |
UBND quận Lê Chân chủ trì phối hợp đại diện cộng đồng dân cư |
| Quy mô đoàn rước |
Trai đinh, chức sắc làng An Biên rước kiệu theo lộ trình cổ |
Rước bộ hơn 1.000 người chia làm 2 đoàn diễu hành qua các phố chính |
| Kinh phí tổ chức |
Đóng góp của dân làng, Cai đám và tiền bán ruộng họ |
Huy động xã hội hóa từ doanh nghiệp, nhà hảo tâm (15–16 tỷ đồng) |
| Nội dung phần Hội |
Đấu vật, đánh phết, thi hoa Thủy Tiên, pháo đất |
Chợ quê, cờ người, võ dân tộc, chạy Olympic, Duyên dáng Lê Chân |
Chương III: Giải pháp khai thác lễ hội đền Nghè phục vụ du lịch tại thành phố Hải Phòng
Chương III đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện trên các khía cạnh bảo tồn, xây dựng sản phẩm và nâng cao năng lực quản lý:
- Giải pháp bảo tồn, tôn tạo di tích: Đẩy mạnh tuyên truyền Luật Di sản văn hóa; cắm mốc quy hoạch chống lấn chiếm đất đai tại khuôn viên Đình An Biên; tổ chức thương thảo giữa Đền Nghè, Đình An Biên và Bảo tàng Hải Phòng để bàn giao các hiện vật gốc về lại Đình An Biên; trích một phần nguồn thu từ hoạt động du lịch lập quỹ tu bổ di tích; ban hành quy chế đãi ngộ thỏa đáng cho người trông coi trực tiếp.
- Giải pháp khôi phục lễ hội và quy hoạch không gian: Phục dựng hoàn chỉnh các hội thi truyền thống (hội thi hoa Thủy Tiên, trò chơi đánh phết); xử lý 2 bồn cây xanh che khuất tầm nhìn tại khu vực Tượng đài Nữ tướng Lê Chân hoặc lắp đặt màn hình LED cỡ lớn phục vụ người dân theo dõi lễ khai mạc.
- Giải pháp phát triển sản phẩm du lịch:
- Thiết kế tour du lịch chuyên đề City tour nội đô trong ngày kết nối chuỗi di tích Đền Nghè - Đình An Biên - Tượng đài.
- Xây dựng sản phẩm liên kết đa dạng: kết hợp du lịch văn hóa tâm linh với du lịch biển (Đồ Sơn, Cát Bà), du khảo đồng quê, du lịch mua sắm, du lịch MICE và chuỗi di tích văn hóa khác trên địa bàn Hải Phòng.
- Khai thác tích hợp lễ hội trong khuôn khổ chương trình thường niên "Lễ hội Hoa phượng đỏ Hải Phòng".
- Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước: Hoàn thiện cơ chế chính sách phối hợp liên ngành; đẩy mạnh giáo dục truyền thống lịch sử Nữ tướng Lê Chân trong các trường học; nâng cao vai trò giám sát của cộng đồng dân cư; kiểm soát chặt chẽ việc đưa các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp bên ngoài biểu diễn nhằm tránh nguy cơ biến tướng, tạp kỹ hóa không gian lễ hội.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu và đưa ra các đóng góp cụ thể:
1. Kết quả nghiên cứu và số liệu thực tế
- Khái quát đầy đủ thông số kỹ thuật và hiện trạng 3 công trình tưởng niệm: Tượng đài Nữ tướng bằng đồng cao 7,5 m (tổng thể 10,09 m), nặng 19 tấn; Đình An Biên diện tích khoảng 3.000 m2; Đền Nghè được bảo tồn nguyên vẹn kiến trúc thời Nguyễn (trùng tu 1924–1927).
- Đánh giá quy mô tổ chức phần Lễ hiện đại với sự tham gia của hơn 1.000 người dân chia thành 2 đoàn rước bộ lớn qua các trục đường chính của trung tâm thành phố Hải Phòng.
- Thống kê nguồn kinh phí xã hội hóa công tác tổ chức lễ hội giai đoạn 2016–2018 đạt từ 15 đến 16 tỷ đồng, khẳng định hiệu quả của việc vận động nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước.
2. Các nhóm giải pháp do tác giả đề xuất
- Đề xuất giải pháp kỹ thuật và quy hoạch: Xử lý vật cản tầm nhìn (2 bồn cây) tại khu vực Tượng đài Nữ tướng Lê Chân, lắp đặt màn hình LED hỗ trợ người xem; xác định ranh giới bảo tồn khuôn viên Đình An Biên chống xâm hại đất đai.
- Đề xuất giải pháp bảo tồn hiện vật: Hoàn trả các di vật gốc từ Bảo tàng Hải Phòng và Đền Nghè về Đình An Biên nhằm khôi phục tính toàn vẹn của di tích.
- Đề xuất phương án thương mại hóa sản phẩm du lịch: Xây dựng City tour di sản kết hợp liên kết đa tuyến (du lịch MICE, du lịch biển, Lễ hội Hoa phượng đỏ).
- Đề xuất hoàn thiện cơ chế quản lý: Xây dựng chính sách đãi ngộ cho đội ngũ trông coi di tích; kiểm soát nguy cơ "quan phương hóa" và "tạp kỹ hóa" để bảo đảm cộng đồng địa phương luôn là chủ thể hưởng thụ và sáng tạo văn hóa trực tiếp.
3. Đóng góp khoa học của khóa luận
Khóa luận đã hệ thống hóa một cách khoa học toàn bộ lịch sử hình thành, quy trình tế lễ cổ truyền và hiện đại của Lễ hội Đền Nghè - Nữ tướng Lê Chân; cung cấp nguồn tư liệu thực địa có giá trị về công tác quản lý nhà nước đối với một di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia trong môi trường đô thị công nghiệp hóa cao.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận ghi nhận một số giới hạn trong phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi không gian khảo sát: Đề tài chỉ tập trung khảo sát 3 địa điểm trên địa bàn quận Lê Chân (thành phố Hải Phòng), chưa mở rộng so sánh với các không gian thờ tự và lễ hội Nữ tướng Lê Chân tại các địa phương liên quan khác như Đông Triều (Quảng Ninh), Hà Nam hay Hà Nội.
- Phạm vi dữ liệu: Các số liệu thống kê quản lý tài chính và quy mô lễ hội chủ yếu tập trung trong giai đoạn 2016–2018; chưa có điều tra định lượng chi tiết về cơ cấu chi tiêu và mức độ hài lòng của du khách quốc tế tham dự lễ hội.
Hướng nghiên cứu mở rộng được định hình dựa trên nội dung văn bản:
- Mở rộng nghiên cứu kết nối tuyến du lịch tâm linh liên vùng theo dấu tích Nữ tướng Lê Chân từ Quảng Ninh (nơi sinh) qua Hải Phòng (nơi lập nghiệp, khai hoang) đến Hà Nam (nơi hy sinh).
- Nghiên cứu sâu hơn về cơ chế xã hội hóa dịch vụ du lịch lễ hội và các giải pháp chuyển đổi số trong công tác thuyết minh, bảo tồn di sản tại Đền Nghè và Đình An Biên.
Giá trị tham khảo
Công trình là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao cho nhiều đối tượng:
- Sinh viên và nhà nghiên cứu: Thuộc các chuyên ngành Việt Nam học, Văn hóa du lịch, Quản lý văn hóa, Lịch sử học cần tư liệu nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Thành hoàng vùng đồng bằng Bắc Bộ và lễ hội truyền thống đô thị.
- Cơ quan quản lý nhà nước: Cung cấp cơ sở dữ liệu thực tiễn cho Phòng Văn hóa - Thông tin quận Lê Chân, Sở Du lịch và Sở Văn hóa - Thể thao Hải Phòng trong việc lập kế hoạch tổ chức, phân luồng giao thông và quản lý nguồn thu xã hội hóa lễ hội hàng năm.
- Doanh nghiệp lữ hành: Tham khảo các lộ trình tour di sản nội đô (City tour) và phương thức kết nối lễ hội Đền Nghè vào các tour du lịch MICE, du lịch biển Đồ Sơn - Cát Bà.
Câu hỏi thường gặp
1. Lễ hội truyền thống Nữ tướng Lê Chân diễn ra vào thời gian nào và tại những không gian cụ thể nào?
Lễ hội diễn ra thường niên từ ngày mồng 7 đến ngày mồng 10 tháng 2 Âm lịch, trong đó ngày chính hội là ngày Thánh Đản mồng 8 tháng 2 Âm lịch. Lễ hội được tổ chức trên không gian liên kết gồm 3 địa điểm: Đền Nghè, Đình An Biên và Quảng trường tượng đài Nữ tướng Lê Chân (quận Lê Chân, TP. Hải Phòng).
2. Nghi thức tế lợn và ban hành lễ trong phần Lễ cổ truyền tại Đền Nghè được quy định như thế nào?
Lễ tế sử dụng lễ vật chính là "ông lợn" nặng khoảng 70 kg do Cai đám nuôi dưỡng theo chế độ riêng. Nhân dân làm Lễ Mao huyết (tế máu và lông gáy) để tẩy uế khai quang. Ban tế gồm 17 người (1 Hội chủ, 1 Đông xướng, 1 Tây xướng, 12 Chấp sự và 2 Bồi tế), tiến thoái theo hình chữ "á", thực hiện tuần tự tuần dâng hoa và tuần dâng trà.
3. Lễ rước bộ hiện đại trong đêm khai mạc được phân luồng và tổ chức qua những tuyến đường nào?
Đoàn rước huy động hơn 1.000 người chia thành 2 nhánh: Nhánh 1 xuất phát từ Đền Nghè đi qua các phố Lê Chân - Mê Linh - Nguyễn Đức Cảnh - Quán Hoa - Quang Trung; Nhánh 2 xuất phát từ Đình An Biên đi qua Hai Bà Trưng - Cát Cụt - Nguyễn Đức Cảnh. Hai đoàn hợp lại tại Quảng trường Tượng đài Nữ tướng Lê Chân để cử hành khai mạc.
4. Nguồn kinh phí tổ chức lễ hội giai đoạn 2016–2018 được huy động từ đâu và quản lý như thế nào?
Kinh phí tổ chức đạt từ 15 đến 16 tỷ đồng, chủ yếu thông qua vận động xã hội hóa từ các tổ chức, doanh nghiệp, nhà hảo tâm và nguồn công đức của nhân dân. Toàn bộ nguồn thu xã hội hóa được nộp về Phòng Tài chính - Kế hoạch quận và hòm công đức được kiểm đếm minh bạch dưới sự giám sát liên ngành, hạn chế tối đa việc dùng ngân sách nhà nước.
5. Những hạn chế chính trong công tác quản lý và tổ chức lễ hội được tác giả chỉ ra là gì?
Không gian sân Tượng đài hẹp (chỉ chứa khoảng 1.000 người) và có 2 bồn cây cản trở tầm nhìn; khó giám sát toàn diện khi các hoạt động diễn ra đồng thời ở 3 điểm; hiện tượng đưa nhiều đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp bên ngoài vào gây nguy cơ "tạp kỹ hóa", biến người dân thành người xem thụ động; khu vực Đình An Biên đối mặt nguy cơ bị lấn chiếm đất đai và di vật bị phân tán.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Văn Thị Hà đã làm rõ bức tranh toàn diện về lịch sử hình thành, diễn trình nghi lễ và giá trị văn hóa - du lịch của Lễ hội Đền Nghè - Nữ tướng Lê Chân tại thành phố Hải Phòng. Công trình phân tích sâu sắc các kết quả đạt được trong việc phục dựng nghi lễ cổ truyền, công nhận di sản cấp quốc gia và huy động nguồn vốn xã hội hóa hiệu quả giai đoạn 2016–2018, đồng thời chỉ ra những bất cập về không gian, bảo tồn di vật và phương thức tổ chức. Hệ thống giải pháp được đề xuất mang tính đồng bộ và thực tiễn, định hướng cho việc bảo tồn di tích gắn liền với việc xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù của địa phương trong giai đoạn phát triển mới.