Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, ngành du lịch được xác định là ngành kinh tế tổng hợp mũi nhọn, mang tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao. Trong các loại hình du lịch, du lịch văn hóa giữ vai trò đặc thù khi vừa đáp ứng nhu cầu mở rộng nhận thức, tìm hiểu tri thức lịch sử – xã hội của du khách, vừa hướng con người tới các giá trị Chân – Thiện – Mỹ. Tỉnh Quảng Ninh sở hữu tiềm năng du lịch nhân văn phong phú với hơn 620 di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh, trong đó có 3 di tích cấp Quốc gia đặc biệt gồm Vịnh Hạ Long, Khu di tích lịch sử – danh lam Yên Tử và Khu di tích lịch sử Bạch Đằng, cùng hơn 100 di tích được xếp hạng cấp quốc gia và cấp tỉnh, gắn liền với hơn 70 lễ hội truyền thống thường niên.

Thành phố Uông Bí là một trong bốn trung tâm du lịch lớn của tỉnh Quảng Ninh, vốn có thế mạnh về loại hình du lịch văn hóa – tâm linh gắn liền với Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Bên cạnh quần thể danh thắng Yên Tử, chùa Ba Vàng (tọa lạc trên dãy núi Thành Đẳng) sau khi hoàn tất công trình đại trùng tu giai đoạn 1 và tổ chức đại lễ khánh thành vào ngày 09/03/2014 đã trở thành một không gian văn hóa – tôn giáo quy mô lớn, sở hữu tòa chính điện được ghi nhận kỷ lục lớn nhất Việt Nam. Tuy nhiên, tại thời điểm năm 2014, việc khai thác các giá trị lịch sử, kiến trúc và tâm linh của ngôi cổ tự này phục vụ hoạt động du lịch văn hóa vẫn còn ở giai đoạn bước đầu, chưa đồng bộ về hạ tầng và dịch vụ phụ trợ. Xuất phát từ bối cảnh đó, tác giả Bùi Thị Tơ đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Văn hóa Du lịch tại Trường Đại học Dân lập Hải Phòng nhằm đánh giá tiềm năng và đề xuất các giải pháp khai thác điểm đến này.

Nội dung nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể như sau:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận, thực tiễn về loại hình du lịch văn hóa và việc khai thác các giá trị di tích phục vụ phát triển du lịch văn hóa.
  • Phạm vi nghiên cứu: Không gian nghiên cứu tập trung tại di tích chùa Ba Vàng, phường Quang Trung, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh; các dữ liệu khảo sát và thống kê kinh tế – xã hội được giới hạn trong giai đoạn từ năm 2009 đến đầu năm 2014.
  • Mục đích nghiên cứu: Chỉ ra các giá trị lịch sử, văn hóa, tâm linh tiêu biểu của chùa Ba Vàng nhằm phục vụ phát triển loại hình du lịch văn hóa.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn về loại hình du lịch văn hóa.
    2. Tìm hiểu về chùa Ba Vàng và hiện trạng khai thác các giá trị lịch sử, giá trị văn hóa, tâm linh trong phát triển du lịch văn hóa.
    3. Đề xuất một số định hướng, giải pháp nhằm khai thác có hiệu quả các giá trị của chùa Ba Vàng phục vụ phát triển du lịch văn hóa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên các định nghĩa chuẩn mực của các tổ chức quốc tế và học giả chuyên ngành du lịch:

  • Khái niệm du lịch văn hóa: Tác giả trích dẫn định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), coi du lịch văn hóa là hoạt động của những người có động cơ chủ yếu là nghiên cứu, khám phá văn hóa như nghệ thuật biểu diễn, lễ hội, di tích, đền đài, văn hóa dân gian và hành hương; định nghĩa của Hội đồng Quốc tế các Di chỉ và Di tích (ICOMOS) nhấn mạnh mục tiêu khám phá gắn liền với trách nhiệm duy tu, bảo tồn; định nghĩa theo Luật Du lịch Việt Nam coi đây là hình thức dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc có sự tham gia của cộng đồng; cùng quan điểm học thuật của GS. Trần Quốc Vượng và PGS.TS. Trần Đức Thanh về việc khai thác tài nguyên du lịch nhân văn trong môi trường nhân văn.
  • Phân loại tài nguyên du lịch văn hóa: Được chia thành di sản văn hóa vật thể (di tích lịch sử, danh thắng, cổ vật, bảo vật quốc gia) và di sản văn hóa phi vật thể (lễ hội, diễn xướng, nếp sống, tri thức dân gian, văn hóa ẩm thực).
  • Mô hình tâm lý tiếp nhận: Quá trình tiếp cận tài nguyên du lịch văn hóa của du khách diễn ra qua 4 giai đoạn nối tiếp: Thông tin $\rightarrow$ Tiếp xúc $\rightarrow$ Nhận thức $\rightarrow$ Đánh giá, nhận xét.
  • Kinh nghiệm thực tiễn: Khóa luận khảo cứu bài học phát triển du lịch văn hóa tại khu vực dãy Himalaya (Ấn Độ, Nepal, Bhutan) về kiểm soát sức chứa tại tu viện; kinh nghiệm phát hành "Thẻ Venise" và ứng dụng hệ thống ALATA tại thành phố Venice (Italia); mô hình bảo tồn thích ứng của tổ chức "Ngôi nhà di sản" tại Luang Prabang (Lào); cùng thực tiễn khai thác di sản thế giới (Huế, Hội An, Mỹ Sơn, Hoàng thành Thăng Long) và bài học phối hợp liên ngành nhằm hạn chế quan niệm tiêu cực "văn hóa xây, du lịch phá" tại Việt Nam.

Tác giả sử dụng 3 phương pháp nghiên cứu học thuật xuyên suốt công trình:

  • Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu: Tổng hợp hệ thống văn bản pháp quy, các quy hoạch xây dựng đô thị của UBND tỉnh Quảng Ninh, niên giám thống kê của thành phố Uông Bí, cùng các tài liệu khảo cổ học, lịch sử thiền phái Trúc Lâm Yên Tử và hồ sơ trùng tu di tích.
  • Phương pháp khảo sát thực tế: Thực hiện điền dã trực tiếp tại chùa Ba Vàng và địa bàn thành phố Uông Bí để thu thập số liệu hiện trạng về hạ tầng giao thông, công trình kiến trúc, nguồn khách và phương thức vận hành đón tiếp.
  • Phương pháp phân tích tổng hợp: So sánh, đối chiếu khung lý luận với thực trạng quản lý và tài nguyên di tích để xây dựng các giải pháp ứng dụng mang tính khả thi.

Nguồn dữ liệu của đề tài được trích xuất từ Sở Văn hóa – Thông tin thành phố Uông Bí, các số liệu thống kê kinh tế – xã hội của UBND thành phố Uông Bí giai đoạn 2009 – 2013, các báo cáo trùng tu di tích và nguồn tư liệu văn bia Hán Nôm niên hiệu Vĩnh Thịnh thời Lê Dụ Tông (1706).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về du lịch văn hóa

Chương mở đầu tập trung khái quát các tiền đề lý thuyết về du lịch văn hóa, khẳng định đây là hình thức nghỉ ngơi tích cực nhằm bổ sung tri thức và làm phong phú đời sống tinh thần. Tác giả phân tích các đặc trưng cơ bản của tài nguyên du lịch văn hóa: mang tính nhận thức rõ rệt hơn tính giải trí, thời gian tiếp cận trong không gian tương đối ngắn, thường phân bố tập trung tại các vùng quần cư hoặc đô thị, và đặc biệt là không bị phụ thuộc chặt chẽ vào tính mùa vụ như du lịch sinh thái – tự nhiên.

Khóa luận phân loại các hình thức du lịch văn hóa thành hai nhóm lớn: du lịch với mục đích cụ thể (nghiên cứu bản sắc, tham quan di tích) và du lịch với mục đích tổng hợp (kết hợp công vụ, hội nghị, hội thảo triển lãm MICE). Để loại hình này vận hành hiệu quả, điểm đến cần hội tụ đủ 6 điều kiện nền tảng: an ninh chính trị hòa bình; nền kinh tế phát triển ổn định; trình độ văn hóa của cộng đồng và du khách; tính độc đáo của tài nguyên văn hóa; điều kiện cơ sở hạ tầng tiếp đón (mạng lưới giao thông, cơ sở lưu trú, dịch vụ ăn uống, nguồn nhân lực); và chính sách yểm trợ của chính quyền địa phương.

Về mặt kinh nghiệm, chương này phân tích các bài học quốc tế và trong nước. Tại Venice (Italia), chính quyền sử dụng công nghệ quản lý luồng khách ALATA và cấp "Thẻ Venise" cho khách lưu trú qua đêm nhằm hạn chế áp lực từ "khách du lịch một ngày". Tại Luang Prabang (Lào), tổ chức "Ngôi nhà di sản" kiểm soát nghiêm ngặt quy chuẩn kiến trúc truyền thống và hạn chế phương tiện cơ giới gây ồn trên sông Mekong. Tại Việt Nam, tác giả chỉ ra các mô hình tour chuyên đề di sản, đồng thời lưu ý rủi ro xung đột giữa bảo tồn và khai thác dịch vụ nếu thiếu sự phối hợp đồng bộ giữa ngành văn hóa và ngành du lịch.

Chương 2: Tìm hiểu các giá trị chùa Ba Vàng (Uông Bí - Quảng Ninh) và khả năng khai thác phục vụ du lịch

Chương 2 trình bày diện mạo tự nhiên, kinh tế – xã hội của thành phố Uông Bí, đồng thời khảo sát toàn diện lịch sử, giá trị kiến trúc, tâm linh và thực trạng hạ tầng của chùa Ba Vàng.

Về điều kiện địa bàn, thành phố Uông Bí có tọa độ từ 20°58' đến 21°09' vĩ độ Bắc và từ 106°41' đến 106°52' kinh độ Đông, nằm cách Hà Nội 115 km, Hải Phòng 30 km và Hạ Long 40 km. Thành phố có diện tích tự nhiên 25.630,2 ha, địa hình dốc nghiêng từ Bắc xuống Nam và phân chia thành 3 vùng: vùng cao (chiếm 65,04% diện tích), vùng thung lũng (chiếm 1,2%) và vùng thấp (chiếm 26,90%). Quy mô dân số tính đến ngày 31/12/2012 đạt 174.678 người, trong đó dân số nội thành chiếm 95,6%. Tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2010 – 2012 đạt bình quân 13%/năm; thu nhập bình quân đầu người năm 2012 đạt 55,36 triệu đồng. Lượng khách du lịch đến Uông Bí có bước tăng trưởng từ 37 vạn lượt (năm 2005) lên 2,1 triệu lượt (năm 2009), đạt tốc độ tăng bình quân 57,7%/năm.

Dưới đây là bảng số liệu cơ cấu lao động thành phố Uông Bí giai đoạn 2009 – 2012 được tác giả trích dẫn từ nguồn dữ liệu của Sở Văn hóa – Thông tin thành phố Uông Bí:

Chỉ tiêu lao động Đơn vị Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
Tổng số người trong độ tuổi lao động Người 48.918 50.120 51.450 52.880
Lao động nông nghiệp Người 4.549 4.410 4.373 4.268
Lao động phi nông nghiệp Người 44.369 45.710 47.077 48.612
Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp % 90,7 91,2 91,5 91,9

Về di tích chùa Ba Vàng (Bảo Quang Tự), ngôi chùa tọa lạc ở độ cao cấp III (200m so với mực nước biển) trên dãy núi Thành Đẳng thuộc phường Quang Trung. Địa thế công trình tựa lưng hướng Bắc vào núi, mặt tiền hướng Nam nhìn ra sông Bạch Đằng, tả có Thanh Long (dãy núi vươn ra), hữu có Bạch Hổ (dãy núi Vành Cóc). Dấu vết khảo cổ học tại nền móng chùa đã phát hiện các viên gạch nát nền đất nung kích thước 40 x 40 cm chạm nổi hoa văn hoa bốn cánh thời Trần, ngói lòng máng mũi hài kích thước 30 x 15 cm, khẳng định nguồn gốc hình thành từ thế kỷ 13 thuộc sơn môn Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.

Quá trình tồn tại và biến đổi kiến trúc của chùa Ba Vàng trải qua 4 đợt trùng tu lớn được tổng hợp trong bảng sau:

Mốc thời gian Bối cảnh và quy mô xây dựng / trùng tu Dấu tích và hiện vật lịch sử ghi nhận
Thế kỷ XIII (Thời Trần) Khai sơn lập tự dưới thời vua Trần Nhân Tông sáng lập Thiền phái Trúc Lâm. Ngói lòng máng mũi hài (30 x 15 cm), gạch nát nền đất nung hoa văn bốn cánh (40 x 40 cm).
Năm 1706 (Thời Hậu Lê) Sư Tổ Trúc Lâm Ma Ha Sa Môn Tuệ Bích Phổ Giác tái dựng, thắp sáng lại truyền thừa sau 300 năm gián đoạn. Cây hương đá cao 1,45 m đỉnh bát sen; Bia đá niên hiệu Vĩnh Thịnh thời vua Lê Dụ Tông đặt trên đế rùa đá cao 0,40 m.
Năm 1988 & 1993 Năm 1988 dựng lại chùa gỗ sau khi lão nông tìm đàn bò phát hiện phế tích (1987). Năm 1993 xây bằng gạch ngói xi măng. Diện tích chùa 55 m², tổng công trình 94,97 m²; chuông đồng nặng 20 kg; miếu Sơn Thần; Giếng Thần sâu 2,5 m, đường kính 1,78 m.
Năm 2007 – 2014 Đại đức Thích Trúc Thái Minh về trụ trì (QĐ 115 ngày 25/08/2006). Khởi công đại trùng tu tháng 7/2010; khánh thành ngày 09/03/2014. Giai đoạn 1 quy mô 21,8 ha, kinh phí 500 tỷ đồng (xã hội hóa). Tòa Đại Hùng Bảo Điện được công nhận lớn nhất Việt Nam; đường bê tông dài gần 3 km, rộng 8 m.

Chương này cũng phân tích các câu chuyện lịch sử về Sư Tổ Tuệ Bích Phổ Giác (sinh năm 1658, thọ 100 tuổi, viên tịch ngày 23/08 năm Đinh Sửu) và tiểu sử trụ trì Đại đức Thích Trúc Thái Minh (sinh năm 1967 tại Bắc Ninh, nguyên giảng viên Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, xuất gia năm 1998). Bên cạnh các hoạt động tôn giáo như khóa tu Bát quan trai định kỳ, chùa thực hiện các công tác cứu trợ bão lụt miền Trung, hỗ trợ pháp lý và cảm hóa phạm nhân tử tù Phạm Xuân Cường, hỗ trợ chi phí phẫu thuật cho bệnh nhi Lê Trung Tuấn. Về điều kiện đón tiếp, chùa đã được đầu tư tuyến đường bê tông 8m nối trung tâm thành phố, hạ tầng điện lưới và hệ thống cấp nước sạch dẫn từ núi Thành Đẳng.

Chương 3: Định hướng và giải pháp khai thác các giá trị của chùa Ba Vàng phục vụ phát triển du lịch văn hóa

Dựa trên thực trạng khảo sát, chương 3 đề xuất hệ thống định hướng và giải pháp cụ thể:

  • Định hướng quản lý: UBND thành phố Uông Bí cần gắn kết quy hoạch chùa Ba Vàng vào quy hoạch tổng thể du lịch chung của địa phương; chính quyền cấp huyện, xã và Ban Quản lý di tích cần phối hợp chặt chẽ trong việc quản lý đất đai tôn giáo, bảo vệ cảnh quan tự nhiên rừng phòng hộ núi Thành Đẳng và đảm bảo trật tự trị an mùa lễ hội.
  • Hệ thống 6 giải pháp trọng tâm:
    1. Quy hoạch và hoàn thiện kiến trúc xây dựng: Đẩy mạnh thi công các hạng mục còn lại theo đúng đồ án quy hoạch tổng thể 123,8 ha đã được phê duyệt, đảm bảo tính hài hòa giữa công trình hiện đại và bảo tồn cảnh quan tự nhiên.
    2. Đẩy mạnh tuyên truyền, quảng bá du lịch: Xây dựng các ấn phẩm giới thiệu, trang thông tin điện tử, phối hợp với các cơ quan truyền thông và công ty lữ hành để quảng bá hình ảnh di tích gắn với tuyến du lịch tâm linh Yên Tử – Ba Vàng.
    3. Xây dựng cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật: Tiếp tục nâng cấp hệ thống bãi đỗ xe đạt chuẩn, hoàn thiện hệ thống nhà vệ sinh công cộng, bảng chỉ dẫn di tích, phát triển các cơ sở lưu trú và dịch vụ ăn uống chay phục vụ du khách hành hương dài ngày.
    4. Hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý: Thành lập bộ phận chuyên trách về du lịch thuộc Ban Quản lý chùa Ba Vàng, phân định rõ chức năng giữa chính quyền địa phương và nhà chùa trong việc điều phối an ninh, vệ sinh môi trường và nguồn thu công đức.
    5. Đào tạo phát triển nguồn nhân lực: Bồi dưỡng kiến thức văn hóa, lịch sử và nghiệp vụ hướng dẫn viên du lịch cho đội ngũ phật tử, tình nguyện viên và nhân viên phục vụ tại điểm di tích.
    6. Thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương: Tạo điều kiện cho nhân dân khu vực phường Quang Trung tham gia cung cấp các dịch vụ trông giữ xe, hàng lưu niệm, sản xuất nông sản thực phẩm phục vụ ẩm thực chay, từ đó tạo sinh kế bền vững và nâng cao ý thức bảo vệ di tích.

Kết quả và đóng góp

Công trình của tác giả Bùi Thị Tơ đạt được một số kết quả khảo cứu cụ thể:

  • Khảo cứu toàn diện tiến trình lịch sử – khảo cổ: Khóa luận đã hệ thống hóa các tư liệu khảo cổ học (gạch ngói thời Trần) và văn bia niên hiệu Vĩnh Thịnh thời Lê Dụ Tông (1706), xác lập niên biểu 4 lần trùng tu của chùa Ba Vàng từ thế kỷ 13 đến năm 2014.
  • Cập nhật số liệu đại trùng tu giai đoạn 2010 – 2014: Cung cấp thông số kỹ thuật chi tiết về dự án tôn tạo chùa Ba Vàng: khởi công tháng 7/2010, diện tích giai đoạn 1 đạt 21,8 ha với tổng kinh phí 500 tỷ đồng hoàn toàn từ nguồn vốn xã hội hóa (trên tổng quy hoạch 123,8 ha, mức đầu tư dự kiến 1.000 tỷ đồng), công trình khánh thành ngày 08–09/03/2014 sở hữu chính điện lớn nhất Việt Nam.
  • Tổng hợp hiện trạng phát triển đô thị và du lịch địa phương: Đưa ra hệ thống số liệu chính thức về thành phố Uông Bí (tốc độ tăng trưởng kinh tế 13%/năm giai đoạn 2010 – 2012, thu nhập đầu người 55,36 triệu đồng năm 2012, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp đạt 91,9%, lượng khách du lịch đạt 2,1 triệu lượt năm 2009).
  • Đóng góp giải pháp ứng dụng: Đề xuất khung 6 nhóm giải pháp thực tiễn cho UBND thành phố Uông Bí và Ban quản lý chùa Ba Vàng ngay sau thời điểm công trình khánh thành, hỗ trợ định hình sản phẩm du lịch văn hóa – tâm linh mới cho địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận bộc lộ một số giới hạn nghiên cứu do chính tác giả tự nhận định và phản ánh từ phạm vi tư liệu:

  • Hạn chế: Tác giả thừa nhận kiến thức và kinh nghiệm thực tế còn hạn chế, thời gian nghiên cứu tương đối ngắn. Do chùa Ba Vàng mới khánh thành vào tháng 3/2014, khóa luận chưa thể thu thập được chuỗi số liệu thống kê định lượng nhiều năm về cơ cấu nguồn khách thực tế, thời gian lưu trú, mức chi tiêu du lịch và các tác động môi trường cụ thể phát sinh trong quá trình vận hành lâu dài; phần lớn tư liệu về giai đoạn phục dựng năm 1987 còn dựa trên các lời kể và giai thoại dân gian.
  • Hướng nghiên cứu mở rộng: Cần tiến hành các điều tra xã hội học định lượng với cỡ mẫu cụ thể về mức độ hài lòng của du khách; đánh giá sức chịu tải du lịch (carrying capacity) của khu vực núi Thành Đẳng vào các dịp lễ hội cao điểm; và nghiên cứu xây dựng tour du lịch liên kết cụ thể giữa Chùa Ba Vàng với danh thắng Yên Tử, hồ Yên Trung và khu sinh thái Lựng Xanh.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên ngành Văn hóa Du lịch, Quản trị Dịch vụ Du lịch và Việt Nam học: Có thể tham khảo cấu trúc nghiên cứu thực trạng một điểm đến văn hóa – tôn giáo mới khánh thành, cách thức vận dụng các khái niệm về tài nguyên nhân văn và phương pháp xây dựng giải pháp khai thác di tích.
  • Cơ quan quản lý văn hóa, du lịch thành phố Uông Bí: Khóa luận cung cấp các tư liệu thực tế về cơ sở hạ tầng, giao thông và các khuyến nghị về cơ chế phối hợp quản lý di tích tôn giáo giữa nhà nước và ban trị sự chùa.
  • Phần nội dung đáng tham khảo nhất: Chương 2 của khóa luận, đặc biệt là phần khảo cứu kích thước hiện vật cổ (cây hương đá, bia đá, rùa đá năm 1706), các căn cứ khảo cổ học thời Trần và thông số quy hoạch đại trùng tu công trình giai đoạn 1.

Câu hỏi thường gặp

1. Tên chữ của chùa Ba Vàng là gì và ngôi chùa tọa lạc tại vị trí địa lý nào?
Chùa Ba Vàng có tên chữ là Bảo Quang Tự (nghĩa là ngôi chùa có ánh sáng quý báu). Chùa tọa lạc ở lưng chừng núi dãy Thành Đẳng (núi Ba Vàng) tại độ cao khoảng 200m so với mực nước biển, thuộc địa phận tổ 17B, khu 5, phường Quang Trung, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, cách khu du lịch sinh thái Lựng Xanh khoảng 1 km.

2. Dấu tích vật chất nào khẳng định chùa Ba Vàng từng tồn tại từ thời nhà Trần?
Các nhà khảo cổ học đã khai quật được tại nền móng chùa cũ những viên ngói đất nung hình lòng máng mũi hài màu phớt hồng kích thước 30 x 15 cm và các viên gạch đất nung lát nền kích thước 40 x 40 cm chạm nổi hoa văn một bông hoa bốn cánh đặc trưng của mỹ thuật đời Trần (thế kỷ 13).

3. Quy mô và nguồn vốn đầu tư đại trùng tu chùa Ba Vàng giai đoạn khánh thành năm 2014 được ghi nhận như thế nào?
Công trình đại trùng tu chùa Ba Vàng chính thức khởi công tháng 7/2010. Giai đoạn 1 hoàn thành có diện tích 21,8 ha với tổng kinh phí xây dựng 500 tỷ đồng, huy động hoàn toàn từ nguồn đóng góp hảo tâm của tăng ni, phật tử, doanh nghiệp và các nhà hảo tâm (nằm trong quy hoạch tổng thể 123,8 ha với tổng mức đầu tư dự kiến 1.000 tỷ đồng). Công trình khánh thành ngày 08–09/03/2014 và được ghi nhận có chính điện lớn nhất Việt Nam.

4. Sư Tổ Tuệ Bích Phổ Giác có vai trò lịch sử như thế nào đối với chùa Ba Vàng?
Sư Tổ Trúc Lâm Ma Ha Sa Môn Tuệ Bích Phổ Giác sinh ngày 06/01/1658 (thời vua Lê Thần Tông), là bậc thiền sư nối lại dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử sau 300 năm gián đoạn. Năm 40 tuổi, ngài về núi Thành Đẳng dựng am tu tập và đến năm 1706 (năm 48 tuổi, thời vua Lê Dụ Tông) ngài cùng nhân dân xây dựng Bảo Quang Tự. Ngài viên tịch ngày 23/08 năm Đinh Sửu, trụ thế 100 tuổi, để lại các di vật cổ gồm cây hương đá tạc hình bát sen và bia đá niên hiệu Vĩnh Thịnh đặt trên lưng rùa đá.

5. Tăng trưởng du lịch và kinh tế của thành phố Uông Bí đạt các chỉ số nào trước thời điểm hoàn thành khóa luận?
Theo số liệu thống kê trong khóa luận, tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình của Uông Bí giai đoạn 2010 – 2012 đạt 13%/năm, thu nhập bình quân đầu người năm 2012 đạt 55,36 triệu đồng. Lượng khách du lịch đến thành phố tăng nhanh từ 37 vạn lượt khách năm 2005 lên 2,1 triệu lượt khách năm 2009, đạt tốc độ tăng bình quân 57,7%/năm.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bùi Thị Tơ đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch văn hóa và khảo cứu toàn diện các giá trị lịch sử, kiến trúc, tâm linh của chùa Ba Vàng gắn với bối cảnh phát triển của thành phố Uông Bí. Công trình ghi nhận dấu mốc chuyển biến quan trọng của ngôi cổ tự núi Thành Đẳng ngay sau sự kiện khánh thành đại trùng tu năm 2014 với quy mô chính điện kỷ lục. Các nhóm giải pháp về quy hoạch, quảng bá, đầu tư hạ tầng và gắn kết cộng đồng địa phương được đề xuất trong nghiên cứu là nguồn tư liệu thực tiễn phục vụ định hướng khai thác hiệu quả tài nguyên du lịch tâm linh của tỉnh Quảng Ninh.