Chương I: Cửa Lò – thiên nhiên và con người (13 – 32 21 trang) Chương II: Các hình thức khai thác nguồn lợi hải sản của cộng đồng ngư dân ven biển Cửa Lò (33 - 40 trang) Chương III: Các hình thức chế biến hải sản của cộng đồng ngư dân ven biển Cửa Lò (33 trang) Ngoài ra, luận văn còn có phần phụ lục gồm một số thuật ngữ liên quan tới nghề khai thác và chế biến hải sản, về tình hình khai thác và hiện trạng khai thác nguồn lợi hải sản ở Việt Nam, đề án phát triển thủy sản của thị xã Cửa Lò và ảnh chụp hoạt động của ngư dân. CỬA LÕ – THIÊN NHIÊN VÀ CON NGƢỜI Vùng biển Cửa Lò là vùng biển ăn sâu vào đất liền, là eo lõm sâu trên bản đồ đất nước cong cong hình chữ S, đây cũng là vùng chuyển tiếp giữa biển Bắc Bộ và biển Trung Bộ, vùng đất được thiên nhiên ban cho nhiều ưu đãi nhưng cũng không kém phần khắc nghiệt. Gắn bó với mảnh đất này là những con người có gốc gác từ những nơi khác nhau với truyền thống hàng trăm năm gây dựng xóm làng, đã tạo nên những nét văn hóa của cộng đồng ngư dân ven biển. Về điều kiện tự nhiên và nguồn lợi biển 1.
Điều kiện địa hình, khí hậu Thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An là vùng đất ven biển, nằm ở toạ độ từ 18 45’ đến 18050’ vĩ độ bắc và từ 105042’ đến 105045’ độ kinh đông, cách 0 thành phố Vinh 20km về phía đông bắc, phía bắc và phía tây giáp huyện Nghi Lộc, phía nam giáp huyện Nghi Xuân (tỉnh Hà Tĩnh) và phía đông giáp biển Đông. Thị xã được chắn bởi hai con sông ở hai đầu bắc nam đổ ra hai cửa biển lớn. Sông Cấm ở phía bắc đổ ra Cửa Lò; sông Lam ở phía nam đổ ra Cửa Hội. Hai cửa biển này đều có vị trí chiến lược quan trọng cả về quân sự và kinh tế của quốc gia.
Thị xã Cửa Lò có bờ biển dài 10,2km, bãi biển rộng, cát trắng mịn, bằng phẳng, lộng gió; nước biển có độ mặn vừa phải, trung bình 3,4-3,5%. Quanh Cửa Lò có nhiều núi đá nhỏ, mỗi hòn núi có dáng vẻ riêng, gắn với những truyền thuyết và chiến công hiển hách đã đi vào lịch sử dân tộc. Từ lâu, nhân dân địa phương đã đặt tên cho các hòn núi đó theo hình dáng của chúng như: núi Voi, núi Rồng, núi Gươm, núi Trống, núi Mão, núi Cờ, đảo Lan Châu. Cách bờ biển Cửa Lò khoảng 4km có đảo Ngư với độ cao 125m, ở vùng nước sâu 12m, là chỗ dựa cho tàu viễn dương trước khi vào cảng Cửa Lò.
Cách Cửa Hội khoảng 30km có đảo Mắt (Quỳnh Nhai) nằm gần kinh tuyến đông 106 0 với độ cao 218m, dài 1,5km, biển sâu 24m, có nguồn nước ngọt, là chỗ dựa cho ngư dân khi gặp sóng to gió lớn. Các hòn đảo này có vị trí chiến lược về quốc phòng an ninh và cũng là điểm du lịch rất hấp dẫn. Địa hình Cửa Lò có nhiều cồn cát cao, rộng, cách nhau khoảng 500m và song song với bờ biển (do đất bồi biển lùi); xen giữa các cồn cát là lòng chảo đầm bàu. 17 z Khí hậu Cửa Lò nằm trong vùng tiểu khí hậu Bắc Trung Bộ.
Mùa hè từ tháng 4 đến tháng 8 có gió tây nam nóng nực; mùa thu từ tháng 9 đến tháng 11 thường mưa nhiều kéo theo lụt bão; mùa đông và đầu mùa xuân có gió mùa đông bắc rét buốt kéo dài từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau. Tuy nhiên, khí hậu nơi đây ấm hơn các huyện phía tây về mùa đông và mát mẻ trong lành hơn về mùa hè, do vị trí nằm sát biển. Thị xã Cửa Lò có diện tích tự nhiên 2812,18ha. Trừ diện tích sông suối 260,33ha, quỹ đất còn lại là 2551,85ha.
Thổ nhưỡng gồm hai loại đất chính: Đất phù sa gồm: cồn cát, đụn cát; đất cát biển; đất phù sa không được bồi, chua, không glây hoặc glây yếu; đất phù sa cũ có nhiều sản phẩm pheralit. Đất mặn gồm: đất lầy hoang; đất mặn nhiều; đất mặn trung bình; đất mặn ít; đất chua mặn và mặn chua. Nghi Thủy nằm sát với cảng Cửa Lò, ở khoảng tọa độ từ 18049’10’’ đến 18050’00’’ vĩ độ bắc và từ 102042’45’’ đến 105043’23’’ độ kinh đông, phía bắc giáp xã Nghi Thiết, huyện Nghi Lộc, phía nam giáp phường Thu Thủy (thuộc thị xã Cửa Lò) và xã Nghi Khánh huyện Nghi Lộc, phía đông giáp biển đông, phía tây giáp lạch Lò và phường Nghi Tân. Vùng đất Nghi Thủy được bao bọc bởi sông biển cả 3 phía: bắc, đông và tây.
Ở phía bắc, sông Cấm đổ ra cửa lạch Lò rồi ra biển Đông, gần cửa lạch Lò có một nhánh sông chảy dọc phía tây phường Nghi Thủy, chảy lên xã Nghi Khánh (Nghi Lộc) – gọi là sông Cửa Lò. Dọc bờ phía đông con sông này có cầu cảng Cửa Lò. Dọc bờ phía bắc lạch Lò thuộc xã Nghi Thiết (Nghi Lộc) có dãy núi chạy theo hướng tây – đông, vươn ra biển, điểm cuối gọi là mũi rồng. Dãy núi này có chỗ thấp trũng tạo thành eo, ngay gần cảng Cửa Lò, biển ăn lõm và đất liền, tạo nên cảng cá Nghi Thủy, là nơi thuyền đánh bắt đi về neo đậu và vận chuyển cá lên bờ.
Bến cá hình vòng cung, dài khoảng 0,5km. Hiện tại, bến cảng đã được bê tông hóa, có bậc tam cấp để lên xuống sát mép nước. Bờ biển thuộc địa phận phường Nghi Thủy dài 1km từ cửa biển Cửa Lò tới đảo Lan Châu. Nước biển có độ mặn thích hợp, trung bình 3,4 – 3,5%, bãi biển rộng.
Biển rất giàu hải sản với nhiều loại như tôm, mực, cua, ghẹ, ốc hương, cá thu, cá lưỡng, cá song, cá ngừ,. Nghi Thủy có bến cảng nên tàu các nơi có thể ra vào thuận lợi, từ Nghi Thủy có thể đi thuyền theo sông Cấm để lên các xã phía tây huyện Nghi Lộc. Nhờ có nhánh sông phía tây và biển phía đông nên vùng này không bao giờ bị úng lụt, chỉ thỉnh thoảng, khi thủy triều dâng cao có thể bị ngập trong vòng nửa giờ. 18 z Khí hậu nơi đây cũng như khí hậu của thị xã, nhưng do có ba mặt là nước bao bọc nên thường mát hơn các vùng khác về mùa hè và ấm hơn về mùa đông.
Tổng diện tích tự nhiên của phường gồm 192ha. Đất đai các loại có 189ha (trong đó đất ở 20ha, đất đô thị 20ha, đất nông nghiệp 18ha, vườn tạp 18ha, đất chuyên dùng 44ha, đất chưa sử dụng 107ha)3. Nhìn chung, điều kiện địa hình và khí hậu của nơi đây thuận lợi cho việc phát triển nền kinh tế dựa vào các nguồn lợi từ biển, đặc biệt là khai thác hải sản. Nguồn lợi biển Do điều kiện vị trí địa lý và địa hình, yếu tố biển nổi bật lên với tư cách là một nguồn lợi tự nhiên đặc biệt quan trọng đối với ngư dân ven biển Cửa Lò.
Trước tiên, phải nói đến là nguồn lợi hải sản dồi dào và đa dạng ở vùng biển Cửa Lò nói riêng, ở vùng biển Nghệ An nói chung. Theo thống kê của Sở Thủy sản Nghệ An, tài nguyên hải sản nói chung của tỉnh gồm có trên 267 loài cá thuộc 91 họ, trong đó có 62 loài có giá trị kinh tế cao, có thể chia thành 2 nhóm sau: nhóm gần bờ có 121 loài chiếm 45,32% (trong đó cá nổi có 20 loài bằng 7,5%, cá đáy và gần đáy 101 loài, tương ứng 37,82%); xa bờ 146 loài chiếm 54,68% (trong đó cá nổi 39 loài bằng 14,61%, cá đáy và gần đáy 107 loài bằng 40,07%). Trữ lượng cá biển trên 80.000 tấn, trong đó cá xa bờ khoảng 50.000 tấn chiếm gần 62%, cho phép khai thác từ 30.000 tấn, có nhiều loại cá có giá trị kinh tế cao như: cá chim; cá thu; cá hồng, nục,. Có 20 loài tôm thuộc 8 giống và 6 họ trong đó có tôm he, tôm rảo, tôm bộp, tôm vàng, tôm sắt, tôm đất, tôm sú và tôm hùm; trữ lượng 610 - 680 tấn.
Tôm hùm là loại tôm có giá trị xuất khẩu cao, có trữ lượng từ 20-25 tấn, tập trung tại các vùng rạn đá ven các đảo và các vùng có đá ngầm trong vùng biển. Tài nguyên hải sản ở Nghệ An còn có một số loại hải sản quý khác, đó là mực. Mực phân bố khắp vùng biển và có nhiều loài, nhưng qua thực tế khai thác một số loài có sản lượng cao là mực cơm, mực ống và mực nang. Ngoài ra, còn phải kể đến các loại hải sản khác như: khuyết, ghẹ, cua, ngao, sò, ốc,.
Sự phong phú về hải sản với các hệ nổi, hệ đáy ở gần bờ và xa bờ trong vùng biển này đã giúp cho ngư dân bám biển sản xuất, tìm kế mưu sinh từ hàng trăm năm trước. Họ đã biết khai thác nguồn lợi hải sản để phục vụ cho 3 Số liệu theo Niên giám thống kê, Phòng Thống kê, UBND Thị xã Cửa Lò, tháng 9 – 1999, tr23 19 z cuộc sống của mình và tạo ra những phương thức khai thác phù hợp với đặc trưng sinh sống của các loại hải sản để đạt hiệu quả tối ưu. Đồng thời, cũng không thể không nói tới lợi thế của một vùng biển nên thơ với nhiều nét đẹp văn hóa, là thuận lợi to lớn để phát triển du lịch. Những năm đầu thế kỷ XX, cùng với việc phát hiện và xây dựng các khu nghỉ dưỡng ở khu vực miền núi phía Bắc, đáp ứng nhu cầu của các nhà tư bản Pháp, thực dân Pháp đã bắt đầu đầu tư xây dựng những nhà nghỉ ở khu vực ven biển Cửa Lò cho các nhà tư bản Pháp ở thành phố Vinh.
Tuy nhiên, yếu tố biển được khai thác trên góc độ du lịch chỉ thực sự được chú ý và tập trung đầu tư phát triển là kể từ khi thị xã Cửa Lò chính thức thành lập, tách khỏi huyện Nghi Lộc vào năm 1995. Từ đó đến nay, du lịch biển là một trong những thế mạnh phát triển kinh tế thị xã. Nguồn lợi thứ ba từ biển và vị trí địa lý mang lại đó chính là hệ thống cửa sông và cảng biển. Thị xã Cửa Lò được giới hạn ở hai phía nam bắc bởi hai cửa sông Lam và sông Cấm.
Đó là những con đường thủy từ biển vào sâu trong đất liền trong lịch sử. Cảng Hội Thống từ xưa đã là nơi ra vào của nhiều con thuyền trong nam ngoài bắc. Cho đến khi đất nước hoàn toàn thống nhất, ngày 05/12/1979 Thủ tướng chính phủ cho phép xây dựng Cảng Cửa Lò (Cảng quốc tế).