đặt vấn đề vay vốn thì điều các Ngân hàng luôn quan tâm đầu tiên là tài sản bảo đảm cho khoản vay. Lúc này doanh nghiệp chƣa tạo đƣợc uy tín trong quan hệ tín dụng với Ngân hàng nên tài sản bảo đảm của doanh nghiệp sẽ tạo ra niềm tin, làm giảm rủi ro cho các Ngân hàng trong việc cấp tín dụng. Các công ty càng có nhiều tài sản bảo đảm (có tính thanh khoản cao) thì sẽ dễ dàng tiếp cận với vốn vay ngân hàng. Tài sản bảo đảm là một trong những nguồn trả nợ để ngân hàng giảm tổn thất khi doanh nghiệp không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính với Ngân hàng, thể hiện thiện chí hợp tác cũng nhƣ tâm huyết của do anh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh cũng nhƣ tinh thần đồng hành cùng ngân hàng trong việc huy động mọi nguồn tiền để trả nợ.
Duarte (2011) chỉ ra rằng tài sản thế chấp ảnh hƣởng đến các chính sách ƣu đãi đối với bên vay, mối quan hệ giữa bên vay và bên cho vay trong việc đánh giá khoản vay. Cụ thể, nếu ngƣời vay có uy tín thƣờng sử dụng tài sản thế chấp có tính thanh khoản cao nhƣ một dấu hiện thể hiện sự tin cậy và độ rủi ro thấp. Bebzuck (2003) chỉ ra rằng tài sản thế chấp có thể hoạt động nhƣ tín hiệu và truyền tải thông tin về chất lƣợng dự án của công ty. Booth và Chua (1995) đã nghiên cứu một mẫu 1.347 khoản vay cao cấp tại Hoa Kỳ với giá trị trung bình 184 triệu đô la Mỹ, thấy rằng 45% trong số đó đã đƣợc đảm bảo bằng tài sản.
Berger và Udell (1990) cho thấy rằng 70% khoản vay nhỏ hơn 50.000 đô la Mỹ đều đƣợc bảo đảm bằng tài sản thế chấp. Yuko Nikaido và cộng sự ( 2012) cho rằng việc cung cấp tài sản thế chấp có thể làm giảm các vấn đề của thông tin không hoàn hảo giữa Ngân hàng và doanh nghiệp. Hongjiang Zhao và cộng sự (2006), Nguyễn Hồng Hà (2013) chỉ ra rằng doanh nghiệp có nhiều khả năng tiếp cận đƣợc nguồn vốn vay ngân hàng nếu doanh nghiệp có tài sản thế chấp nhiều. ` 1 - Tuổi công ty: Công ty càng lâu đời càng chứng minh khả năng quản lý và cạnh tranh của doanh nghiệp tốt nên mới có thể tồn tại trong thị trƣờng.
Ngoài ra, các công ty lâu đời còn tích lũy đƣợc thị phần ổn định, một lƣợng khách hàng truyền thống và có nguồn thu nhập ổn định hơn các công ty mới thành lập. Bates và Nucci (1990) phát hiện ra rằng xác suất thất bại của công ty liên quan nghịch với tuổi tác. Petersen và Rajan (1994) chỉ ra rằng tuổi của một doanh nghiệp có thể ảnh hƣởng tích cực đến sự sẵn có của của nguồn vốn tín dụng Ngân hàng. Hector Alberto (2015) nhận định rằng kinh nghiệmp trên thị trƣờng là một dấu hiệu cho ngƣời cho vay về sự ổn định của doanh nghiệp.
Các công ty càng lâu đời càng có khả năng tiếp cận tín dụng cao hơn các công ty mới thành lập (Khalid (2014)). - Quy mô công ty: Các công ty nhỏ gặp khó khăn hơn trong thị trƣờng tín dụng vì xác suất thất bại tƣơng đối cao (Jensen và McGuckin, 1997), chi phí cố định trong việc vay vốn của các công ty nhỏ cao hơn (Symeonidis, 1996), chi phí giám sát cao hơn (Boocock và Woods, 1997). Các công ty có quy mô nhỏ thƣờng ít có khả năng lập báo cáo tài chính, ít có tài khoản ngân hàng và ít có khả năng tiếp cận các sản phẩm tín dụng ngân hàng (nhƣ vay nợ, thấu chi hoặc hạn mức tín dụng) là một trong ba trở ngại chính đối với các công ty trong việc tiếp cận vốn vay Ngân hàng. Trong khi đó, những doanh nghiệp có quy mô lớn hơn thì dễ dàng tiếp cận hơn (Mengistae và cộng sự, 2010).
Ngoài ra, các công ty nhỏ hơn có thƣờng có tài sản thế chấp có giá trị thấp nên các ngân hàng sẽ có một phần e ngại và cẩn trọng hơn trong việc thẩm định phƣơng án vay vốn cũng nhƣ nguồn trả nợ. Hector Alberto (2015) chỉ ra rằng các doanh nghiêp có quy mô lớn thì càng có khả năng thu hút đƣợc vốn do dễ dàng tạo ra nguồn trả nợ, có sự bảo đảm bằng lƣợng vốn cổ phần lớn cùng với cơ sở hạ tầng và sự minh bạch trong báo cáo tài chính. Các công ty có quy mô lớn có lƣợng doanh thu, tài sản cũng nhƣ số lƣợng ` 1 lao động cao, các yếu tố này có quan hệ chặt chẽ với khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp. Granda (2012), Ajagbe (2013), Khalid (2014) chỉ ra rằng quy mô của doanh nghiệp ảnh hƣởng cùng chiều trong việc tiếp cận tín dụng tại ngân hàng.
- Thiết lập cơ hội đầu tƣ của công ty (đại diện bởi lợi nhuận, tăng trƣởng doanh thu và tăng trƣởng tài sản cố định): cũng có thể ảnh hƣởng đến khả năng phân phối tín dụng (Hubbard, 1998). Cơ hội đầu tƣ càng nhiều thì khả năng tiếp cận tín dụng càng cao và ngƣợc lại. - Sử dụng kiểm toán độc lập và áp dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế: Làm tăng tính minh bạch của báo cáo tài chính. Việc báo cáo tài chính của một công ty đƣợc kiểm toán độc lập sẽ giúp các Ngân hàng tin tƣởng hơn vào số liệu của báo cáo tài chính trong quá trình thẩm định và đánh giá khách hàng.
Dharan (1993) chỉ ra rằng ý kiến của kiểm toán viên sẽ truyền đạt những đặc điểm rủi ro của công ty đến ngƣời cho vay. - Phân loại ngành: các ngân hàng thƣờng phân loại ngành để đánh giá chất lƣợng tín dụng vay và xem xét không cho vay đối với những doanh nghiệp hoạt động trong các ngành đang trong giai đoạn khủng hoảng, nguồn cung ứng hàng hóa dƣa thừa, lƣợng hàng tồn kho lớn. Do đó phân loại ngành có ảnh hƣởng đến quyết định cho vay của ngân hàng (Cole, 1998). Rajan và Zingales (1998) chỉ ra rằng các ngân hàng có thể thích các doanh nghiệp thuộc các ngành cụ thể chẳng hạn nhƣ các ngành công nghiệp đang phát triển.
Hector Alberto (2015) chỉ ra rằng những đặc điểm khác nhau về loại hàng hóa cung cấp có thể dẫn đến sự khác biệt về cấp độ tiếp cận tín dụng của các công ty. - Duy trì tài khoản tiền gửi tại ngân hàng: đại diện cho mối quan hệ giữa doanh nghiệp với ngân hàng, làm tăng khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng. Các doanh nghiệp có duy trì tiền gửi tại tài khoản ngân hàng sẽ dễ tiếp cận vốn vay ngân hàng hơn (Yuko Nikaido và cộng sự (2012). Hơn nữa, mục số dƣ tài khoản tiền gửi ` 1 Ngân hành bình quân cũng là một trong các tiêu chí trong bảng chỉ tiêu xếp hạng tín dụng doanh nghiệp của các Ngân hàng.
- Trình độ học vấn của chủ sở hữu doanh nghiệp: Các doanh nghiệp có trình độ học vấn cao hơn có thể tiếp cận đƣợc vốn vay Ngân hàng nhiều hơn so với các doanh nghiệp trình độ học vấn thấp. Điều này là do các chủ sở hữu có trình độ học vấn thấp có khuynh hƣớng gặp khó khăn với thủ tục của doanh nghiệp. Hơn nữa, các nhà quản lý đƣợc đào tạo tốt hơn có nhiều khả năng quản lý, về tài chính, sản xuất tiếp thị và kinh doanh quốc tế sẽ dẫn đến sự tăng trƣởng của công ty (Kumar và Francisco, 2005). Đỗ Thanh Vinh và Nguyễn Minh Tâm (2014) chỉ ra rằng trình độ học vấn của chủ doanh nghiệp có tƣơng quan cùng chiều với khả năng tiếp cận vốn vay của các doanh nghiệp.
- Vị trí địa lý của doanh nghiệp: Yuko Nikaido và cộng sự (2012) cho rằng doanh nghiệp ở khu vực nông thôn có nhiều khả năng bị hạn chế khả năng tiếp cận vốn tín dụng Ngân hàng, các doanh nghiệp thuộc các khu vực có mật độ ngân hàng cao sẽ dễ dàng tiếp cận hơn.3 Các nhân tố từ phía nền kinh tế vĩ mô: Sự phát triển của nền kinh tế ảnh hƣởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng nói chung và hoạt động cho vay nói riêng. Khi nền kinh tế phát triển, các Ngân hàng sẽ có nhiều nguồn huy động vốn, tạo môi trƣờng rất thuận lợi để mở rộng hoạt động cho vay. Khi nền kinh tế ở giai đoạn suy thoái, các Ngân hàng sẽ xiết chặt hoạt động cho vay, các doanh nghiệp sẽ khó khăn hơn trong việc tiếp cận vốn vay Ngân hàng. Nguyễn Văn Lê (2014) chỉ ra rằng khi điều kiện kinh tế vĩ mô bất ổn sẽ ảnh hƣởng đến tăng trƣởng dụng ngân hàng.
Hạ Thị Thiều Dao (2014) phản ánh tình trạng kinh tế vĩ mô khó khăn khiến thị trƣờng đi xuống chính là một trong nhiều nguyên nhân làm hạn chế khả năng tiếp cận tín dụng.6 Tổng quan các nghiên cứu trƣớc đây: Hongjiang Zhao và cộng sự (2006) thực hiện nghiên cứu các nhân tố tác động đến khả năng vay nợ ngân hàng của DNVVN ở thành phố Chengdu (tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc). Tác giả nghiên cứu trên 82 DNVVN thuộc 10 quận ở thành phố Chengdu và 10 quận lân cận. Thời gian nghiên cứu trong 2 năm từ 2003 - 2004. Tác giả sử dụng mô hình hồi quy đa biến OLS và mô hình logit để phân tích các nhân tố ảnh hƣởng đến khả năng vay nợ ngân hàng của DNVVN.
Kết quả nghiên cứu cho thấy doanh nghiệp có nhiều khả năng tiếp cận đƣợc nguồn vốn vay ngân hàng nếu doanh nghiệp có tài sản thế chấp nhiều, quy mô doanh nghiệp lớn (thể hiện qua tổng tài sản). Các yếu tố nhƣ doanh thu, lãi ròng, tỷ lệ nợ trên tổng tài sản, xếp hạng tín dụng không ảnh hƣởng đến khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng của các DNVVN. Yuko Nikaid và cộng sự (2012) thực hiện nghiên cứu các nhân tố tác động khả năng tiếp cận tín dụng tổ chức của các doanh nghiệp nhỏ ở Ấn Độ. Số lƣợng doanh nghiệp khảo sát là 2.897 doanh nghiệp trên toàn Ấn Độ trong 5 năm từ 2008 - 2012.
Mô hình nghiên cứu sử dụng là mô hình hồi quy logit. Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố làm doanh nghiệp nhỏ của Ấn Độ có khả năng tiếp cận tín dụng bao gồm: trình độ học vấn của chủ doanh nghiệp từ trung học trở lên, có tài khoản ngân hàng. Nhân tố làm giảm khả năng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp nhỏ bao gồm hoạt động kinh doanh đa dạng, địa điểm kinh doanh của công ty thuộc địa bàn nông thôn, địa điểm kinh doanh ở Đông và Nam Ấn Độ. Các nhân tố nhƣ quy mô công ty, sản lƣợng doanh nghiệp, giá trị tài sản cố định, giới tính của chủ sở hữu không tác động đến khả năng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp nhỏ.