Chương 1 Giới thiệu khái quát quá trình nghiên cứu: tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn và kết cấu của luận văn. Cơ sở lý thuyết và các công trình nghiên cứu trước có liên quan sẽ được trình bày trong Chương 2. 14 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Trong chương 2 này, tác giả nêu các khái niệm có liên quan: khái niệm về TMĐT, mô hình về chấp nhận công nghệ, các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thích nghi về TMĐT của công chức. Trình bày cơ sở lý thuyết về mô hình chấp nhận công nghệ.
Tổng quan các công trình nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm có liên quan đến đề tài nghiên cứu từ đó làm cơ sở để đưa ra mô hình nghiên cứu cho phù hợp với đề tài nghiên cứu. Các khái niệm liên quan Khái niệm TMĐT: TMĐT có rất nhiều định nghĩa khác nhau, các định nghĩa sau được dùng khá phổ biến: “TMĐT (Electronic commerce) là một khái niệm tương đối rộng, nên nó có nhiều tên gọi khác nhau. Hiện nay có một số tên gọi phổ biến như: thương mại không giấy tờ (paperless commerce) hoặc kinh doanh điện tử (e-business)”, thương mại trực tuyến (online trade). “Tuy nhiên, với tên gọi TMĐT (Electronic commerce) được sử dụng nhiều nhất, được biết đến nhiều nhất và gần như được coi là quy ước chung để gọi hình thức giao dịch thương mại qua mạng internet.
“Với sự thay đổi của thời gian quan điểm về nội hàm của TMĐT sẽ có sự thay đổi theo cùng với sự phát triển của nó”. Các nhà khoa học, các nhà quản lý hiện nay hiểu khái niệm về TMĐT theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng như sau: + Hiểu theo nghĩa hẹp Theo nghĩa hẹp, “TMĐT không chỉ là mua dịch vụ và mua bán hàng hóa thông qua các phương tiện điện tử, các mạng viễn thông nhất là qua Internet”. Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), “TMĐT bao gồm bán hàng, sản xuất và phân phối sản phẩm được mua bán, thanh toán trên mạng Internet, quảng 15 cáo, giao nhận một cách hữu hình, cả các sản phẩm giao nhận cũng được số hoá thông qua mạng Internet”. “Theo Ủy ban TMĐT của Tổ chức Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), TMĐT là công việc kinh doanh được tiến hành thông qua truyền thông số liệu và công nghệ tin học kỹ thuật số”.
+ Hiểu theo nghĩa rộng Có hai định nghĩa khái quát được đầy đủ nhất phạm vi hoạt động của TMĐT: “Luật mẫu về TMĐT của Ủy ban Liên hợp quốc về Luật Thương mại quốc tế” (UNCITRAL) định nghĩa “Thuật ngữ thương mại (commerce) cần được hiểu theo nghĩa rộng để bao quát các vấn đề phát sinh từ mọi quan hệ mang tính chất thương mại dù có hay không có hợp đồng”. “Các quan hệ mang tính thương mại bao gồm, nhưng không giới hạn ở các giao dịch sau đây: bất cứ giao dịch nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ, thoả thuận phân phối, đại diện hoặc đại lý thương mại, ủy thác hoa hồng (factoring), cho thuê dài hạn (leasing), xây dựng các công trình, tư vấn, kỹ thuật công trình (engineering), đầu tư, cấp vốn, ngân hàng, bảo hiểm, thỏa thuận khai thác hoặc tô nhượng, liên doanh và các hình thức về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh, chuyên chở hàng hóa hay hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ”. Theo định nghĩa này, có thể nhận thấy được phạm vi hoạt động của TMĐT rất rộng, khái quát và bao quát hầu hết các lĩnh vực hoạt động kinh tế, trong đó hoạt động mua bán hàng hóa và dịch vụ chỉ là một phạm vi rất nhỏ trong TMĐT. Theo Ủy ban châu Âu thì “TMĐT được hiểu là việc thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua các phương tiện điện tử, dựa vào việc xử lý và truyền dữ liệu điện tử dưới dạng text, âm thanh và hình ảnh”.
(Nguyễn Thị Phương Hiền, 2004) khái niệm rằng “TMĐT được mở rộng hơn khái niệm thương mại truyền thống, phạm vi của TMĐT rất rộng, nó phản ảnh xu thế phát triển của nền kinh tế số hóa trong đó mọi hình thái hoạt động kinh tế đang có xu hướng được hội tụ trên mạng máy tính”. 16 Theo tác giả Mai Anh (2005) thì “TMĐT bao gồm mọi giao dịch được thực hiện nhờ công nghệ số, nhất là việc dùng Internet, các mạng riêng để trao đổi thông tin (EDI) và thẻ tín dụng”. Ở Việt Nam, khái niệm TMĐT được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật “TMĐT là việc thực hiện một phần hoặc toàn bộ các quy trình của hoạt động thương mại bằng phương tiện điện tử được kết nối với mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác” (Chính phủ, 2013). Theo tác giả Đào Anh Tuấn (2014) thì khái niệm “TMĐT là việc tiến hành toàn bộ quy trình hoặc một khâu của hoạt động thương mại bằng các phương tiện điện tử có kết nối với mạng ineternet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác”.
(Nguyễn Thị Thu Hà, 2017) cho rằng “TMĐT là hoạt động thương mại nó chỉ khác duy nhất đối với thương mại truyền thống là nó sử dụng phương tiện điện tử vào trong hoạt động thương mại”. - Khái niệm về quản lý nhà nước về TMĐT: Theo tác giả Đào Anh Tuấn (2014) “quản lý nhà nước về TMĐT được hiểu là quá trình nhà nước sử dụng các công cụ quản lý để tác động lên hoạt động thương mại trong môi trường điện tử nhằm đạt được các mục tiêu phát triển TMĐT đã đặt ra”. - Khái niệm về Sàn giao dịch TMĐT: “Là website TMĐT cho phép các thương nhân, tổ chức, cá nhân không phải chủ sở hữu website có thể tiến hành một phần hay toàn bộ quy trình mua bán hàng hóa, dịch vụ trên đó” (Chính phủ, 2013). - Khái niệm khả năng thích nghi: Khả năng thích nghi (KNTN) là: “khả năng thích ứng tốt trước sự thay đổi của môi trường, hoàn cảnh để phù hợp với xu hướng ngày nay.
Nó có thể được rèn luyện bằng ý chí, thái độ và được xem là một trong các kỹ năng mềm cần có của mỗi người”. 17 (Trần Chí Vĩnh Long, 2012) cho rằng “thích ứng là hiện tượng biến đổi của con người nhắm lĩnh hội những kinh nghiệm xã hội – lịch sử để hình thành những hành vi mới. Trên cơ sở đó điều khiển, điều chỉnh hành vi hợp với yêu cầu, điều kiện mới của môi trường”. Theo tác giả Nguyễn Minh Châu (2012) thì “kỹ năng thích ứng là khả năng tri thức, kinh nghiệm nhằm điều chỉnh nội dung phương thức hoạt động và giao tiếp của bản thân cho hợp với điều kiện môi trường sống để tồn tại và phát triển”.
(Nguyễn Thị Hồng Như, 2014) cho rằng “thích nghi và thích ứng là hai khái niệm có tính đồng nhất tương đối, chúng đều là hệ thống phản ứng của chủ thể nhằm cân bằng với điều kiện thay đổi của môi trường. Thích ứng là sự tích cực, chủ động của chủ thể nhằm thâm nhập vào môi trường, vào hoạt động, hình thành những hành vi mới đồng thời điều khiển, điều chỉnh hành vi cho thích hợp với những yêu cầu mới của hoạt động để tiến hành hoạt động có kết quả”. Theo tác giả Nguyễn Văn Trình (2015) thì “thích ứng là quá trình cá nhân tích cực tiếp cận và lĩnh hội những khác biệt trong hoàn cảnh mới, qua việc chủ động thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi nhằm đạt được kết quả như mong đợi của bản thân cũng như của xã hội hiện nay”. Các đặc trưng của TMĐT TMĐT có một vài điểm khác biệt cơ bản đối với hoạt động thương mại truyền thống, như sau: Trong TMĐT, các bên giao dịch với nhau không cần thiết phải tiếp xúc trực tiếp và không nhất thiết quen biết nhau.
Trong Thương mại truyền thống, các bên thường gặp gỡ trực tiếp để tiến hành giao dịch, các giao dịch như: chuyển tiền, hóa đơn, vận đơn, gửi báo cáo được thực hiện chủ yếu thông qua các phương tiện viễn thông như: fax, telex,. Tuy nhiên, việc chuyển tải thông tin một cách trực tiếp giữa hai đối tác của cùng một giao dịch là sử dụng các phương tiện điện tử trong thương mại truyền thống. 18 TMĐT cho phép nhiều người cùng giao dịch, từ vùng sâu, vùng xa, từ các khu vực đô thị lớn, tạo điều kiện cho tất cả mọi người ở khắp mọi nơi đều có cơ hội ngang nhau tham gia vào thị trường giao dịch toàn cầu và không đòi hỏi nhất thiết phải có mối quen biết với nhau. TMĐT được thực hiện trong một thị trường không có biên giới (thị trường thống nhất toàn cầu); còn các giao dịch thương mại truyền thống được thực hiện với sự tồn tại của khái niệm biên giới quốc gia.
TMĐT trực tiếp tác động tới môi trường cạnh tranh toàn cầu. Ngoài các chủ thể tham gia quan hệ giao dịch giống như giao dịch thương mại truyền thống thì xuất hiện một bên thứ ba đó là nhà cung cấp dịch vụ mạng, các cơ quan chứng thực… là những người tạo môi trường cho các giao dịch TMĐT. Hoạt động giao dịch trong TMĐT phải có sự tham gia của ít nhất ba chủ thể, trong đó không thể thiếu được là nhà cung cấp dịch vụ mạng, các cơ quan chứng thực. Trong TMĐT, Nhà cung cấp dịch vụ mạng và cơ quan chứng thực có nhiệm vụ chuyển đi, lưu giữ các thông tin giữa các bên tham gia giao dịch TMĐT, đồng thời họ cũng xác nhận độ tin cậy của các thông tin trong giao dịch TMĐT.
“TMĐT thì mạng lưới thông tin chính là thị trường thông qua TMĐT, nhiều loại hình kinh doanh mới được hình thành,còn đối với thương mại truyền thống thì mạng lưới thông tin chỉ là phương tiện để trao đổi dữ liệu, còn với”. Các hình thức TMĐT “Theo các đối tượng tham gia vào giao dịch TMĐT thì hiện nay có rất nhiều mô hình TMĐT khác nhau trên thế giới. Theo đối tượng tham gia thì có 3 đối tượng chính bao gồm: Chính phủ (G - Goverment), Doanh nghiệp (B - Business) và Khách hàng (C - Customer hay Consumer). Nếu kết hợp đôi một 3 đối tượng này sẽ có 9 hình thức theo đối tượng tham gia: B2C, B2B, B2G, G2B, G2G, G2C, C2G, C2B, C2C.
Trong đó, các dạng hình thức chính của TMĐT bao gồm: Doanh nghiệp với Doanh nghiệp (B2B) Doanh nghiệp với Khách hàng (B2C) 19 Doanh nghiệp với Chính phủ (B2G) Khách hàng với Khách hàng (C2C) Thương mại đi động (mobile commerce hay viết tắt là m-commerce)”.