ĐẶT VẤN ĐỀ Ngành chăn nuôi Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế của nông nghiệp Việt.Trong đó, chăn nuôi là quan trọng nhất và là nguồn thu nhập chính của nhiều hộ gia đình đồng thời thúc đẩy sự phát triển của một số ngành công nghiệp liên quan như chế biến thực phẩm, sản xuất thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y…Sản xuất thịt lợn vẫn luôn là ngành hàng thịt chủ lực và truyền thống lâu đời tại Việt Nam, là thế mạnh của ngành chăn nuôi nước ta. Trước khi xảy ra dịch tả lợn châu phí lượng thịt lợn chiếm khoảng 70% trong tổng sản lượng thịt tiêu thụ trong cả nước. Ngoài việc cung cấp nguồn thực phẩm trong thị trường nội địa, thịt lợn cũng góp phần cho xuất khẩu. Chất thải chăn nuôi còn cung cấp cho ngành trồng trọt một nguồn phân hữu cơ có giá trị góp phần thâm canh tăng năng suất cây trồng và là nguồn chất đốt (biogas) phục vụ cho đời sống con người.
Mặc dù gặp nhiều khó khăn do tác động của dịch bệnh trên vật nuôi, biến đổi cực đoan của thời tiết, khí hậu, song chăn nuôi cơ bản đã đạt các mục tiêu đề ra, duy trì mức tăng trưởng cao, đáp ứng đủ nhu cầu trong nước và duy trì xuất khẩu, có bước phát triển cả về lượng và chất, trở thành ngành sản xuất hàng hóa lớn, tạo sinh kế và nâng cao đời sống cho hàng triệu hộ nông dân. Trong năm 2019 do chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch tả lợn châu Phi(ASF), tính từ đầu tháng 2/2019 đến ngày 22/7/2019, chỉ sau 6 tháng phát hiện, dịch tả lợn châu Phi đã xảy ra 6016 xã thuộc 558 huyện của 62/63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và đối tượng bị ảnh hưởng đặc biệt là các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, chăn nuôi hộ gia đình. Do đó, xu hướng chăn nuôi lợn hiện nay ở nước ta đang dần chuyển dịch cơ cấu từ chăn nuôi truyền thống (chăn nuôi nhỏ lẻ, hộ gia đình) sang chăn nuôi quy mô trang trại. Do vậy số trang trại đã tăng lên cả về số lượng và quy mô.
1 Nhưng trong vài năm gần đây, ngành chăn nuôi nước ta, đặc biệt là chăn nuôi lợn đã gặp phải rất nhiều khó khăn do việc chăn nuôi ồ ạt và giá thịt lợn giảm giai đoạn 2016- 2018, rồi sau đó là dịch tả lợn châu Phi đã gây ra những tổn thất tổn thất thiệt hại nghiêm trọng cho người chăn nuôi. Để đạt được mục tiêu trên và tiếp tục duy trì phát triển tốt hoạt động chăn nuôi, ngành chăn nuôi cần tiếp tục triển khai tốt các nội dung, mục tiêu đã được Chính phủ nêu tại Chiến lược phát triển chăn nuôi giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (theo Quyết định số 1520/QÐ-TTg- tháng 10/2020). Theo đó, tập trung đẩy mạnh cơ cấu lại ngành chăn nuôi; thực hiện các giải pháp thúc đẩy tái đàn lợn; phát triển các mô hình chăn nuôi lợn theo chuỗi liên kết phù hợp thực tiễn sản xuất của từng vùng, từng phân khúc thị trường. Để thực hiện chiến lược này, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã cho phép các trung tâm giống, trang trại chăn nuôi nhập các giống lợn ngoại và cho tiến hành thử nghiệm lai với nhiều công thức khác nhau qua đó tạo ra các thế hệ con lai có khả năng sinh sản, sinh trưởng tốt, tăng trọng nhanh, có khả năng thích nghi với môi trường sống, sức chống đỡ với bệnh tật, tỉ lệ nạc cao đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
Trong các thế hệ con lai được tạo ra thì việc sử dụng lợn nái lai F1(Landrace x Yorkshire) phối với các đực giống ngoại trở nên phổ biến trong các trang trại chăn nuôi. Xuất phát từ vấn đề thực tế đó, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Khả năng sinh sản của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với lợn đực Duroc tại trang trại Xuân Hoà – Như xuân - Thanh Hóa ”. MỤC ĐÍCH – YÊU CẦU 1. Mục đích - Đánh giá khả năng sinh sản của tổ hợp lai lợn nái F1 (Landrace × Yorkshire) khi phối với lợn đực Duroc.
- Đánh giá được khả năng sinh trưởng của lợn con từ sơ sinh đến cai sữa. - Xác định tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa. 2 - Đánh giá tình hình dịch bệnh trên đàn lợn nái và lợn con. Yêu cầu đề tài - Nắm được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn của trang trại.
- Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái qua 3 lứa đẻ. - Đánh giá được khả năng tăng trưởng và phát triển của lợn con. - Nắm bắt được tình hình dịch bệnh và phương pháp phòng chống dịch bệnh tại trại. Ý nghĩa thực tiễn - Đưa ra khuyến cáo về việc sử dụng tổ hợp lai trên cho cơ sở chăn nuôi.
3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. ĐẶC ĐIỂM MỘT SỐ GIỐNG LỢN Lợn Yorkshire Nguồn gốc: Lợn Yorkshire hay còn gọi là Lợn trắng lớn, Lợn Đại Bạch là một giống lợn có nguồn gốc từ vùng Yorkshire nước Anh từ thế kỉ 19, hiện nay được nuôi ở hầu khắp các nước trên thế giới. Khả năng thích nghi của giống lợn này tốt hơn các giống khác. Ở nước talợn Yorkshire được nhập vào miền Bắc thông qua Liên Xô cũ năm 1964.
Đến năm 1978, lợn Yorkshire từ Cu Ba. Những năm sau 1990, lợn Yorkshire được nhập vào Việt Nam từ nhiều nước khác nhau. Lợn có đặc điểm: Lợn Yorkshire có lông trắng tuyền, tai dựng đứng (có nhóm giống tai hơi nghiêng), trán rộng, ngực rộng, ngoại hình thể chất chắc chắn , nuôi con khéo, chịu đựng được kham khổ, chất lượng thịt tốt, khả năng chống chịu stress cao. Lợn cái thành thục về tính lúc 6 tháng tuổi và có thể phối giống lần đầu khoảng 240 - 260 ngày, số con đẻ ra trên lứa từ 10 - 13 con, số lứa/nái/năm 2,0 - 2,2.
Khối lượng sơ sinh/con từ 1,3 - 1,4 kg/con, khối lượng ở 60 ngày tuổi từ 16 – 18 kg/con, con đực trưởng thành nặng 300 - 400 kg, con cái nặng từ 230 - 300 kg. Lợn vỗ béo đạt 100kg lúc 5 - 6 tháng tuổi, tỉ lệ nạc khoảng 52 – 53 %. Hướng sử dụng: chủ yếu để lai trong các công thức lai kinh tế với các giống khác tạo ra lợn cái có năng suất sinh sản khá và khả năng chống chịu tốt được sử dụng làm nái sinh sản. Giống lợn Landrace Nguồn gốc: Lợn Landrace là giống lợn cao sản có nguồn gốc từ Đan Mạch, được nuôi phổ biến ở các nước Châu Âu từ năm 1990, được tạo thành bởi quá trình lai tạo giữa giống lợn Youtland ( Đức) với lợn Yorkshire ( Anh).
Giống Landrace 4 được nhập vào Việt Nam từ năm 1970 từ Cu Ba và được xem là một trong những giống lợn được sử dụng trong chương trình nạc hoá đàn lợn ở Việt Nam. Đặc điểm: Lợn Landrace toàn thân lợn có màu trắng tuyền, đầu nhỏ, mõ dài thẳng, tai to dài rủ xuống kín mặt cụp về phía trước, cổ nhỏ và dài, mình dài, vai-lưng-mông-đùi rất phát triển, mông đùi to, mõm thẳng, thân hình dài, mông nở, ngoại hình thể chất vững chắc, đẻ sai con ( trừ Landrace Bỉ ) lợn Landrace thích nghi kém hơn so với Yorkshire trong điều kiện nóng ẩm xong lợn có tỷ lệ nạc cao. Trọng lượng trưởng thành đực: 330 – 320 kg, nái: 220 - 250 kg, lợn thịt có tỷ lệ nạc từ 54 – 56 %, thịt ngon mềm, sớ cơ ít dai. Tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng từ 2,8 – 3 kg.
Lợn có khả năng tăng trọng 750 – 800 g/ngày. Lợn có khả năng sinh sản cao, mắn đẻ và đẻ nhiều trung bình đạt 1,8 - 2 lứa /năm. Mỗi lứa đẻ 10 - 12 con/ổ. Khối lượng sơ sinh trung bình đạt 1,2 - 1,3 kg.
Nái nuôi con, tiết sữa, kháng bệnh, chịu nóng tốt nhưng khả năng thích nghi trong điều kiện thời tiết nóng kém. Hướng sử dụng: Lợn Landrace nuôi phổ biến trong chăn nuôi trang trại ở nước ta, được sử dụng trong các công thức lai kinh tế giữa các giống ngoại với nhau hoặc với giống nội tạo ra đàn lợn thịt có năng suất chất lượng cao. Giống lợn Duroc : Giống lợn Duroc hay heo bò được Isaac Frink tạo ra ở vùng New York vào năm 1823. Về sau được lai tạo với nhiều giống lợn khác nhằm cải thiện chất lượng thịt.
Lợn Duroc được nuôi theo hướng lấy thịt với năng suất cao và tỷ lệ nạc lớn, ít mỡ. Chúng được mệnh danh là giống lớn tốt nhất hiện nay nên được chăn nuôi phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới. Về ngoại hình, lợn Duroc có những đặc điểm nổi bật sau: - Toàn thân có lông màu hung đỏ hoặc nâu đỏ sẫm. - Tầm vóc trung bình, thân hình vững chắc, mình dài, vai, lưng, mông, đùi rất phát triển.
- Đầu to vừa phải, mõm đen dài, cổ nhỏ và dài. 5 - Tai xụp từ nửa vành phía trước, dài, gốc tai đứng. - Lưng còng, ngắn đòn, bụng thon. - Chân thấp, chắc khỏe, bốn móng ở mỗi chân màu đen huyền, khi lai có màu vàng nhạt và có những đốm bông đen (thường ở đùi, mông và bụng).
Về trọng lượng: - Con đực trưởng thành: Trung bình nặng 300kg/con, có thể lên đến 370kg. - Con cái trưởng thành: Trung bình nặng 200–300kg/con, có thể lên đến 250 –280kg. - 6 tháng tuổi heo có thể đạt: 105–125 kg/con. - Lợn Duroc có nhiều nạc, nạc có sớ cơ dai, ít vân mỡ, tỷ lệ nạc lên đến 65%, mỡ lưng mỏng chỉ khoảng 10 – 12mm.
Chúng có khả năng tăng trọng nhanh từ 750-800 g/ngày. ĐẶC ĐIỂM SINH LÍ SINH SẢN Ở LỢN NÁI Sinh sản là một thuộc tính quan trọng của sinh vật nói chung và của gia súc nói riêng nhằm duy trì nòi giống và đảm bảo sự tiến hóa của sinh vật. Sinh sản có ý nghĩa quan trọng, đó là tái sản xuất và tạo sản phẩm nhằm phục vụ lợi ích cho con người 2. Sự thành thục về tính Một cơ thể thành thục về tính khi bộ máy sinh dục của cơ thể đã phát triển cơ bản hoàn thiện, dưới tác động của hệ thần kinh, nội tiết con vật xuất hiện các hiện tượng của sự hưng phấn sinh dục.
Sự thành thục về tính được ghi nhận bằng những biểu hiện sau: Bộ máy sinh dục đã phát triển tương đối hoàn chỉnh, trứng bắt đầu rụng. Các đặc tính sinh dục thứ cấp xuất hiện. Con vật xuất hiện các phản xạ sinh dục: con cái động dục, con đực có hiện tượng giao phối. Sự thành thục về tính phụ thuộc vào nhiều yếu tố và điều kiện khác nhau: 6 - Các yếu tố di truyền: Các giống khác nhau thường có tuổi thành thục về tính khác nhau.