CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1. Tính cấp thiết của đề tài Thế kỷ XXI là thời kỳ quan hệ quốc tế phát triển mạnh mẽ, bất kỳ quốc gia nào, dù lớn hay nhỏ, dù thuộc hình thái kinh tế xã hội nào cũng không thể tránh khỏi tác động của mối quan hệ kinh tế quốc tế. Đây cũng là thời kỳ diễn ra quá trình biến đổi từ một nền kinh tế thế giới bao gồm nhiều nền kinh tế quốc gia sang nền kinh tế toàn cầu. Hội nhập kinh tế mang đến nhiều cơ hội cũng như thách thức cho nền kinh tế, một trong những thách thức đặt ra cho nền kinh tế vĩ mô đó là nền kinh tế dễ bị tổn thương trước những biến động quốc tế.
Đây không chỉ là thách thức của riêng một quốc gia, mà tất cả các quốc gia tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế đều phải đối mặt với thách thức này. Câu hỏi đặt ra ở đây là, liệu tất cả các quốc gia đều có phản ứng như nhau khi đối mặt với các cú sốc kinh tế như nhau, tất cả các quốc gia đều bị ảnh hưởng như nhau trước những cú sốc kinh tế như nhau hay không? Thực tế đã chứng minh, các quốc gia không phản ứng giống nhau khi đối mặt với các cú sốc kinh tế giống nhau cũng như các quốc gia bị ảnh hưởng khác nhau trước những cú sốc kinh tế giống nhau. Vậy sự khác biệt này là do đâu? Có những quốc gia khi đối mặt với các cú sốc kinh tế, có thể bị ảnh hưởng nhưng nhanh chóng bật lại và thoát khỏi ảnh hưởng tiêu cực của các cú sốc.Tuy nhiên, cũng có những quốc gia ngày càng chìm sâu vào khủng hoảng và phải mất nhiều năm mới có thể thoát ra khỏi những ảnh hưởng của các cú sốc đó.Từ đó mà thuật ngữ “khả năng phục hồi của nền kinh tế” ra đời.Nó giải thích sự khác biệt về phản ứng của của các nền kinh tế trước một cú sốc giống nhau, làm thế nào để một quốc gia có thể nhanh chóng thoát khỏi ảnh hưởng của các cú sốc.Chính vì vậy mà nghiên cứu về khả năng phục hồi của nền kinh tế có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với nhiều quốc gia trên thế giới. Hiện nay, tại Việt Nam vẫn chưa có nhiều bài nghiên cứu cụ thể nào về đánh 2 giá khả năng phục hồi của nền kinh tế.
Xét về bối cảnh kinh tế tại Việt Nam, nền kinh tế của chúng ta đang từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Việt Nam đã gia nhập Cộng đồng Kinh tế ASEAN và đang trong quá trình đàm phám ký kết hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP). Điều này sẽ đặt Việt Nam vào vị thế phải sẵn sàng đối mặt với nhiều cú sốc lớn, nhỏ bất ngờ. Chính vì vậy tác giả chọn nghiên cứu vấn đề “Đo lường khả năng phục hồi của nền kinh tế, thực trạng tại Việt Nam và giải pháp” để làm đề tài cho luận văn của mình.
Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Thực tế tại Việt Nam chưa có nhiều bài nghiên cứu về khả năng phục hồi của nền kinh tế sau khi trải qua các cú sốc. Tuy nhiên, trên thế giới đã có nhiều tác giả nghiên cứu và đưa ra những lý luận nền móng cho vấn đề này. Các nghiên cứu của Jack Boorman và cộng sự (2013) và đặc biệt là nghiên cứu Lino Briguglio và cộng sự (2008) đã đưa ra được phương pháp cụ thể nhằm đo lường và so sánh sự khác biệt về khả năng phục hồi giữa các nước, tuy nhiên cũng chưa đánh giá được tầm quan trọng của khả năng phục hồi đối với một nền kinh tế. Các nghiên cứu của Ch.
Buelens (2013), Romain Duval và Lukas Vogel (2008),… đã có những bước tiến đáng kể, đó là sử dụng các mô hình kinh tế lượng để xác định/kiểm định các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng phục hồi của nền kinh tế. Tuy nhiên các nghiên cứu này cũng vướng phải một hạn chế là cũng mới chỉ xác định được các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng phục hồi của nền kinh tế, khẳng định được tầm quan trọng của các nhân tố, ví dụ như chính sách đối với khả năng phục hồi của nền kinh tế chứ chưa đo lường một cách định lượng cũng như đưa ra một kết quả cụ thể nào về tầm quan trọng của khả năng phục hồi. Một số bài nghiên cứu tiêu biểu: Bài nghiên cứu “The Rising Resilience of Emerging Market and Developing Economies” của Abdul Abiad, John Bluedorn, Jaime Guajardo, and Petia Topalova (2012) đã nghiên cứu sự phục hồi của các nền kinh tế đang hội nhập và phát triển, theo đó khả năng phục hồi được định nghĩa là khả năng duy trì giai đoạn phát triển dài và mạnh mẽ hơn, cũng như khả năng rút ngắn giai đoạn suy thoái của nền kinh tế. Đầu tiên, nghiên cứu chỉ ra rằng tốc độ phục hồi của các quốc gia đang trong 3 quá trình hồi phục và phát triển là tốt hơn rất nhiều so với các nước đã phát triển trong hai thập kỷ vừa qua cũng như qua cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu trong giai đoạn 2003-2007.
Phát hiện thứ 2 của nghiên cứu chỉ ra rằng những cú sốc nội sinh và ngoại sinh có mối quan hệ chặt chẽ với việc kết thúc đẩy chu kỳ phát triển của một nền kinh tế đang hội nhập và phát triển. Trong các yếu tố ngoại sinh, sự dừng đột ngột của nguồn vốn, sự chững lại của các nền kinh tế phát triển, sự bất ổn của kinh tế toàn cầu hay sự mất cân bằng của các điều kiện thương mại là các yếu tố có thể viện dẫn đến sự chấm dứt một chu kỳ phát triển. Trong các yếu tố nội sinh, bùng nổ tín dụng, tình trạng bong bong tài sản hay khủng hoảng trong hệ thống Ngân hàng là nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái của các nền kinh tế. Điểm thứ 3, các chính sách tốt cũng có quan hệ mật thiết với khả năng phục hồi (một phạm vi chính sách tốt, thể hiện ở lạm phát thấp và một chính sách tài khóa cũng như chính sách ngoại thương tốt) và cải thiện khung chính sách (thể hiện ở chính sách ‘phản chu kỳ’, kiểm soát lạm phát và tỷ giá linh hoạt) có liên quan đến chu kỳ phát triển dài và phục hồi nhanh hơn.
Thứ tư, nghiên cứu cho rằng sự cải thiện chính sách có tác động đến sự phục hồi kinh tế mạnh mẽ hơn so với các cú sốc nội sinh và ngoại sinh.Các chính sách kinh tế ảnh hưởng đến 3/5 sự phục hồi của các nền kinh tế đang hội nhập và phát triển.Tần suất ít xảy ra hơn của các cú sốc ảnh hưởng đến 2/5 phần còn lại. Nghiên cứu của Jack Boorman, José Fajgenbaum, Hervé Ferhani, Manu Bhaskharan, Drew Arnold, Harpaul Alberto Kohli (2013) có tên “The Centennial Resilience Index: Measuring Countries’ Resilience to Shock”. Các tác giả chỉ ra rằng: chỉ số khả năng phục hồi cho thấy rõ sự yếu kém nổi lên ở nhiều nền kinh tế đã là một dấu hiệu rõ ràng trước khi cuộc khủng hoảng toàn cầu và trước khi cuộc khủng hoảng ở châu Âu xảy ra. Điều đó chứng tỏ sự cần thiết để theo đuổi tích cực các ý kiến đã được nêu ra nhằm nâng cao các quy trình giám sát, đặc biệt là những quy trình của chính IMF.
Bài nghiên cứu liệt kê một cách chọn lọc và rút gọn các số liệu về chỉ số khả 4 năng phục hồi ở hầu hết các khu vực trên thế giới:Các nước phát triển; EU, trừ các nước vùng rìa mới gia nhập; EU, khu vực các nước vùng rìa mới gia nhập; Châu Á; Châu Mỹ La tinh và vùng Caribe; Khu vực các nước xung quanh sa mạc Sahara ở Châu Phi; Bắc Phi và Trung Đông; Trung Âu và vùng Baltic. Cuối cùng tác giả đưa ra kết luận: khả năng phục hồi của một đất nước với những cú sốc kinh tế và tài chính phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Các yếu tố bao gồm khả năng của các chính phủ, và khả năng quản trị nói chung; sức mạnh của các tổ chức trong quốc gia, đặc biệt là các tổ chức hoạch định chính sách kinh tế và tài chính trong nước; tính đúng đắn của mảng ngân hàng trong quốc gia và lĩnh vực tài chính nói chung; cấu trúc của nền kinh tế bao gồm tính phụ thuộc vào xuất khẩu, sự đa dạng của nền kinh tế, sự cởi mở đến thị trường tài chính toàn cầu và các yếu tố khác nữa như khả năng hoạch định chính sách. Chỉ số khả năng phục hồi cho thấy rõ sự yếu kém nổi lên ở nhiều nền kinh tế đã là một dấu hiệu rõ ràng trước khi cuộc khủng hoảng toàn cầu và trước khi cuộc khủng hoảng ở châu Âu xảy ra.
Chỉ số khả năng phục hồi có thể bổ sung vào các công cụ của các quy trình giám sát, hoặc ít nhất là một công cụ, để giúp bảo đảm rằng các lỗ hổng được phát hiện, và việc phân tích sâu hơn sẽ được tiến hành để đánh giá các lỗ hổng và đề xuất các chính sách khắc phục. Một điều rõ ràng nhất là từ bài phân tích này thì việc xây dựng khả năng phục hồi và biến nó trở thành một ưu tiên trong chính sách của các nhà kinh tế có thể mang lại lợi ích lớn trong tương lai. Nghiên cứu “Economic Resilience to Shocks: The Role of Structural Policies” của Romain Duval and Lukas (2008) cho rằng các nước đang hội nhập và phát triển càng ngày càng phát triển mối quan hệ mật thiết với kinh tế và hệ thống tài chính toàn cầu. Khủng hoảng kinh tế nổ ra tại Hoa Kỳ có tác động tức thì đến các quốc gia đang hội nhập và phát triển.Điều này đòi hỏi các quốc gia này phải có năng lực để đối lại với các tác động tiêu cực lên nền kinh tế của họ từ thị trường thế giới.
Công trình của các tác giả nghiên cứu sự phục hồi của các nền kinh tế dựa trên việc xây dựng ‘chỉ số phục hồi’.Sự phục hồi của các nền kinh tế đang hội nhập và phát triển có liên quan đến rất nhiều nhân tố khác nhau như chất lượng của chính 5 phủ trong việc quản trị; sức mạnh của các Cơ quan ban hành chính sách; sự lành mạnh của hệ thống Ngân hàng; cấu trúc của nền kinh tế - như sự độc lập và đa dạng của xuất khẩu; sự cởi mở của thị trường tài chính; phạm vi chính sách trong lĩnh vực tài khóa, tiền tệ cũng như dự trữ. Dưới đây là bảng tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm chính: Bảng 1.