ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh viện Phục hồi chức năng tỉnh Đồng Tháp là một Bệnh viện chuyên khoa Phục hồi chức năng hạng III tuyến tỉnh. Tiền thân từ Nhà Điều Dưỡng cán bộ, năm 2005 Bệnh viện Phục hồi chức năng Đồng Tháp được thành lập. Đến năm 2020, đơn vị đã phát triển được 5 phỏng, 7 khoa, số giường kế hoạch là 110 giường, giường thực kê 193 giường, 119 nhân viên. Số lượng khám bệnh ngoại trú khoảng 300 lượt/ngày, số điều trị nội trú 130 – 140 lượt.
Trong những năm qua, Bệnh viện đã thực hiện việc khám và điều trị bệnh chuyên về Phục hồi chức năng cho người dân trong tỉnh và các tỉnh trong khu vực Đồng bằng Sông Cứu Long (1). Cơ chế tự chủ tài chính (TCTC) đối với đơn vị sự nghiệp công lập là một chủ trương lớn về cơ chế tài chính. Trong những năm qua, Việt Nam đã không ngừng đổi mới cơ chế, chính sách với trọng tâm là giao quyền tự chủ cho các Bệnh viện công lập. Từ khi Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/04/2006 của Chính phủ qui định quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính ra đời, nguồn thu của các đơn vị được cải thiện rõ rệt, góp phần bảo đảm các khoản chi thường xuyên, đồng thời giảm bớt phần nào sự phụ thuộc vào NSNN (2, 3).
Tại Đồng Tháp, có nhiều bệnh viện đã được Ủy Ban Nhân Dân tỉnh trao quyền TCTC 100% chi thường xuyên đã và đang hoạt động rất có hiệu quả (1). Các đơn vị này đã tự thân vận động, thay đổi hành vi cách làm từ bộ máy cơ chế tài chính hoạt động theo cơ chế bao cấp sang tự chủ tự chịu trách nhiệm, mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt, cụ thể nhất là đời sống cán bộ công nhân viên chức được cải thiện nâng cao hơn so với trước (3, 4). Tại Bệnh viện Phục hồi chức năng, từ trước năm 2018 Bệnh viện là đơn vị tự chủ một phần chi hoạt động thường xyên. Từ năm 2018 đến nay, Bệnh viện được giao tự chủ toàn bộ chi hoạt động thường xuyên theo Nghị Định 43 (1).
Sau khi thực hiện tự chủ toàn bộ chi thường xuyên, Bệnh viện không được NSNN cấp kinh phí cho hoạt động thường xuyên nữa. Tất cả kinh phí cho hoạt động thường xuyên của bệnh viện phụ thuộc vào nguồn thu sự nghiệp tại đơn vị (1). Dù không thể phủ nhận kết quả của TCTC với các thành tựu và bước phát triển của bệnh viện, quá trình 2 chuyển đổi tại bệnh viện PHCN tỉnh Đồng Tháp còn nhiều khó khăn như cơ chế chính sách đặc thù cho việc khai thác và huy động cũng như quản lý sử dụng nguồn tài chính sau tự chủ hiệu quả. Vì vậy, việc đánh giá kết quả hoạt động tài chính cũng như những vấn đề thực hiện tự chủ toàn bộ kinh phí chi thường xuyên là cần thiết.
Khi thực hiện tự chủ toàn bộ chi thường xuyên thì Bệnh viện có những thuận lợi và khó khăn gì? Từ khi thực hiện cơ chế tự chủ đến nay (đặc biệt trong giai đoạn tự chủ toàn bộ chi thường xuyên), Bệnh viện Phục hồi chức năng Đồng Tháp chưa có nghiên cứu nào về thực hiện TCTC để đánh giá những kết quả đạt được cũng như những tác động không mong muốn từ đó có những giải pháp thực hiện tốt hơn trong giai đoạn tới. Với sự cần thiết đó, em tiến hành nghiên cứu: “Kết quả hoạt động tài chính giai đoạn 2016 – 2020 và một số thuận lợi – khó khăn tại Bệnh viện Phục hồi chức năng Đồng Tháp”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1- Mô tả kết quả hoạt động tài chính tại Bệnh viện Phục hồi chức năng Đồng Tháp, giai đoạn 2016 - 2020. 2- Tìm hiểu một số yếu tố thuận lợi và khó khăn của hoạt động tài chính tại Bệnh viện Phục hồi chức năng Đồng Tháp.
4 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm chính 1. Khái niệm bệnh viện Theo qui chế bệnh viện của Bộ Y tế (quyết định số 1895/1997/QĐ-BYT năm 1997) thì Bệnh viện là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe (CSSK) cho người bệnh (5). Phân loại bệnh viện có nhiều cách, tuy nhiên phân loại theo quyền sở hữu thì có 02 loại, đó là bệnh viện công lập (thuộc sở hữu của nhà nước) và bệnh viện ngoài công lập (6).
Nghiên cứu này, chỉ đề cập đến các bệnh viện công lập (sau đây gọi tắt là bệnh viện). Theo Nghị định số 43/2006 của Chính phủ tùy thuộc khả năng huy động nguồn thu sự nghiệp mà bệnh viện được chia thành 3 loại để thực hiện quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm về tài chính (Điều 9 Nghị định 43/2006) (7): - Bệnh viện tự bảo đảm chi hoạt động. - Bệnh viện tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động. - Bệnh viện do NSNN bảo đảm toàn bộ chi hoạt động.
Hàng năm, dựa theo các nghị định hướng dẫn và cách phân loại này, các bệnh viện sẽ trình xin kế hoạch ngân sách cũng như thực hiện phân phối kết quả hoạt động tài chính (KQHĐTC) trong năm. Khái niệm hoạt động tài chính Hoạt động tài chính là các hoạt động liên quan đến việc huy động, khai thác, quản lý và sử dụng vốn của đơn vị nhằm làm tăng thu nhập và nâng cao hiệu quả hoạt động (nghiên cứu này chỉ thực hiện hoạt động thu, chi để đánh giá kết quả hoạt động tài chính tại bệnh viện) (5). Quản lý tài chính bệnh viện ở Việt Nam được định nghĩa là việc quản lý toàn bộ các nguồn vốn, tài sản, vật tư của bệnh viện để phục vụ nhiệm vụ khám chữa bệnh, đào tạo và nghiên cứu khoa học, chỉ đạo tuyến. Quản lý tài chính trong bệnh viện phải đạt các mục tiêu: - Sử dụng, quản lý các nguồn kinh phí NSNN cấp và các nguồn thu được coi là NSNN cấp như: Thu dịch vụ khám chữa bệnh, bảo hiểm y tế, viện trợ.
theo đúng chế độ định mức qui định của Nhà nước. 5 - Tăng nguồn thu hợp pháp, cân đối thu chi, sử dụng các khoản chi có hiệu quả, chống lãng phí, thực hành tiết kiệm. - Thực hiện chính sách ưu đãi và đảm bảo tính công bằng trong khám bệnh, chữa bệnh cho các đối tượng ưu đãi xã hội và người nghèo. Đánh giá kết quả hoạt động tài chính Quản lý tài chính có thể hiểu đơn giản là Tìm đủ nguồn lực để hoạt động và sử dụng nguồn lực đó một cách tiết kiệm và tối ưu nhất (8).
Theo quan điểm này, thì kết quả hoạt động tài chính có thể được hiểu là bao gồm các cấu phần sau: - Chênh lệch thu chi: Theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP và Nghị định 16/2015/NĐ-CP, chênh lệch thu chi là phần chênh lệch thu lớn hơn chi (nếu có) sau khi trang trải các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản nộp khác theo quy định để sử dụng vào việc trích lập các Quỹ, chi trả thu nhập,. (7, 9) - Đầu tư mua sắm, sửa chữa tài sản từ nguồn thu dịch vụ khám chữa bệnh. - Mức tự đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên (%) = (Tổng nguồn thu sự nghiệp chia tổng chi hoạt động thường xuyên) x 100% bằng hoặc lớn hơn 100%. Vai trò, chức năng của tài chính bệnh viện Đối với các hoạt động của bệnh viện, tài chính bệnh viện (TCBV) có vai trò rất quan trọng.
Vai trò này được quy định bởi các chức năng của tài chính. Đó là chức năng huy động các nguồn tài chính y tế một cách thích hợp; quản lý và phân bổ nguồn tài chính (10). Ngoài ra, TCBV còn có thêm hai chức năng rất quan trọng khác, đó là chức năng khuyến khích việc nâng cao chất lượng DVYT và chức năng phát triển các kỹ thuật y tế nhằm để bảo vệ người dân trước các rủi ro do chi phí y tế khá lớn để họ không bị nghèo hóa. Và đây cũng là hai chức năng khác biệt của TCBV so với tài chính doanh nghiệp và TCBV tư hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận.
Với chức năng này, yêu cầu các cơ sở y tế trong hoạt động thu sự nghiệp phải đẩy mạnh tăng thu một cách hợp pháp, và đồng thời phải cố gắng để tiết kiệm chi một cách hợp lý nhằm giảm bớt chi phí điều trị 1. Thực trạng hoạt động tài chính của bệnh viện 1. Thực trạng tự chủ nguồn thu Nguồn thu thường xuyên của các bệnh viện thực hiện TCTC, tự bảo đảm một 6 phần chi phí hoạt động bao gồm các nguồn thu chủ yếu sau (11, 12): - NSNN cấp cho hoạt động thường xuyên. - Thu sự nghiệp: + Thu MPVP (gọi chung là thu viện phí) do người bệnh đóng trực tiếp hoặc quỹ Bảo hiểm Y tế xã hội (BHYT) hoặc các quỹ bảo hiểm khác chi trả.
+ Thu hoạt động dịch vụ. - NSNN cấp cho một số mục chi hoạt động không thường xuyện. + Nguồn thu thường xuyên của các bệnh viện thực hiện TCTC, tự đảm bảo toàn bộ chi thường xuyên gồm các nguồn thu chủ yếu sau: - Thu sự nghiệp: + Thu MPVP (gọi chung là thu viện phí) do người bệnh đóng trực tiếp hoặc quỹ Bảo hiểm Y tế xã hội (BHYT) hoặc các quỹ bảo hiểm khác chi trả. + Thu hoạt động dịch vụ.
- NSNN cấp cho một số mục chi hoạt động không thường xuyện. Hiện nay, Ngân sách nhà nước đầu tư cho bệnh viện còn thấp, chưa đáp ứng được các yêu cầu chi tiêu của bệnh viện cho các nội dung chi phụ thuộc vào nguồn NSNN như đầu tư CSHT, TTB và trả lương, phụ cấp cho NVYT (13). NSNN phân bổ cho các bệnh viện công chủ yếu dựa trên xếp hạng bệnh viện và quy mô giường bệnh (giường bệnh kế hoạch nhà nước giao cho bệnh viện hàng năm) (11). Hình thức phân bổ NSNN cho các bệnh viện mang tính chất bình quân đã được thực hiện từ rất lâu và vẫn đang tiếp tục được thực hiện.
Việc phân bổ kinh phí đơn thuần chỉ dựa vào các chỉ số mang tính hành chính mà không dựa vào các chỉ số hoạt động của bệnh viện đã dẫn đến tình trạng là có những bệnh viện hoạt động tốt, thu hút đông người bệnh cũng chỉ được phân bổ kinh phí tương đương với bệnh viện hoạt động yếu, ít bệnh nhân nếu cùng số giường và đồng hạng. Cơ chế phân bổ tài chính này dễ dẫn đến hệ quả là bệnh viện quan tâm đến việc tăng số giường bệnh hơn là chú trọng phát triển chuyên môn nâng cao chất lượng. Từ 2003 đến nay, việc cấp trực tiếp NSNN cho các bệnh viện, nhà nước đã chuyển một phần ngân sách đầu tư cho các bệnh viện sang hỗ trợ trực tiếp cho người bệnh.