Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm về chất lượng và quản lý chất lượng khám chữa bệnh 1. Khái niệm chất lượng khám chữa bệnh Là mức độ đạt được các mục tiêu bên trong của hệ thống y tế về cải thiện sức khỏe và đáp ứng tới kỳ vọng chính đáng của người dân (Tổ chức Y tế Thế giới) Bao gồm hai cấu phần riêng biệt: chất lượng vận hành (functional quality), là cách thức người bệnh được nhận dịch vụ (tiếp cận dịch vụ) và chất lượng chuyên môn (technical quality), là chất lượng của việc cung ứng dịch vụ khám chữa bệnh (năng lực và kết quả điều trị) [28]. WHO đã đưa ra một tiêu chuẩn thiết thực để đánh giá dịch vụ chăm sóc sức khỏe gồm có sáu lĩnh vực: an toàn, hiệu quả, lấy bệnh nhân làm trung tâm, đúng lúc, hiệu suất và công bằng [38].
Khái niệm về quản lý chất lượng khám chữa bệnh Là hoạt động đảm bảo người bệnh nhận được dịch vụ y tế tốt nhất. Để chăm sóc tốt nhất cho người bệnh, các cơ sở y tế cần có chức năng này. Khi bệnh viện sử dụng các công cụ và mô hình quản lý chất lượng để cải thiện, không chỉ người bệnh mà tất cả nhân viên y tế đều được hưởng lợi từ nó. Theo tổ chức tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000:2015 “quản lý chất lượng là việc quản lý các hoạt động có phối hợp để định hướng và kiểm soát một tổ chức liên quan đến chất lượng” [12].
Trong nghiên cứu này chúng tôi thống nhất sử dụng thuật ngữ chất lượng khám chữa bệnh để chỉ chất lượng cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe trong bệnh viện và cơ sở y tế. Trong khám chữa bệnh có sự tham gia của 3 thành phần: người chi trả dịch vụ, nhà cung cấp và khách hàng. Người chi trả dịch vụ là các cá nhân và tổ chức trả tiền cho các dịch vụ chăm sóc y tế trực tiếp hay gián tiếp; nhà cung cấp là cá nhân hoặc tổ chức chăm sóc sức khỏe (nhân viên y tế); khách hàng là bệnh nhân. Nhân viên y tế, bệnh nhân và thân nhân là các đối tượng được quan tâm trong nghiên cứu này.
5 Chất lượng dịch vụ ngày càng được khẳng định là vai trò then chốt trong việc so sánh giữa cơ sở y tế (CSYT) này với CSYT khác và để tạo dựng được những lợi thế cạnh tranh. Những người bệnh khi phải chịu chi phí cao cho các dịch vụ y tế (DVYT) thì ngày càng có những đòi hỏi, yêu cầu mong đợi cao hơn về chất lượng dịch vụ cung cấp từ phía cán bộ y tế (CBYT), bệnh viện. Người dân sẽ không đến các cơ sở khám chữa bệnh khi họ không hài lòng bởi những dịch vụ CSSK được cung cấp kém chất lượng. Mặt khác, khi người bệnh hay khách hàng hài lòng với chất lượng dịch vụ y tế nhận được, họ sẽ sẵn sàng sử dụng các loại dịch vụ CSSK khác nhau, hoặc giới thiệu người thân, quen đến CSYT để cùng trải nghiệm.
Dịch vụ y tế tại các CSYT càng đảm bảo chất lượng càng đáp ứng cao nhu cầu/kỳ vọng của người bệnh. Do đó, việc thường xuyên quan tâm đánh giá, nghiên cứu chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe (CSSK) của bệnh viện trước xu hướng nhu cầu ngày càng cao và phong phú của khách hàng/người bệnh, góp phần đảm bảo sự tồn tại, hình thành và giữ vững thương hiệu, uy tín bệnh viện cũng như mở ra lợi thế cạnh tranh cho CSYT tiếp tục phát triển. Khái niệm về sự hài lòng người bệnh Thuật ngữ “hài lòng” (satisfaction) có nguồn gốc từ thuật ngữ Latin “satis” nghĩa là “đủ”, hàm ý một việc gì đó đáp ứng đủ mong đợi, nhu cầu, hoặc kỳ vọng, và như vậy không còn gì để phàn nàn nữa. Khái niệm sự hài lòng cũng như nhiều định nghĩa về tâm lý học khác rất dễ hiểu nhưng lại khó định nghĩa, sự hài lòng là một khái niệm bao trùm.
Một định nghĩa đơn giản và thực tế của sự hài lòng là mức độ mong muốn mà người ta nhận được [1]. Theo Fitzpatrick (1991), sự hài lòng của người bệnh là một phần quan trọng và được chấp nhận rộng rãi như một thước đo về hiệu quả chăm sóc. Hulka, Zyzanski, Cassel và Thompson (1970, 1974) đã đặt nền móng đầu tiên cho các quan niệm về hài lòng người bệnh, theo đó sự hài lòng của người 6 bệnh được thể hiện qua thái độ của người bệnh đối với y bác sĩ và chăm sóc sức khỏe [24]. Nhóm nghiên cứu cũng đã xây dựng chỉ số tổng hợp thể hiện đánh giá liên quan đến chất lượng chăm sóc sức khỏe nhận được từ bác sĩ, y tá và nhân viên y tế khác để đo mức độ hài lòng của người bệnh.
Quan niệm này sau đó được chấp nhận rộng rãi trong giới nghiên cứu về hài lòng người bệnh như nghiên cứu của các tác giả Hines và các cộng sự (1977) [43]; Doyle và Ware (1977) [42]; Locker và Dunt (1978) [25]; Jenkinson C và các cộng sự (2002) [44] và Ahmad và các cộng sự (2011) [26]. Hoạt động quản lý chất lượng khám chữa bệnh. Quản lý chất lượng gồm có 3 hoạt động: Đo lường, đánh giá và cải thiện. Đo lường: Thu thập thông tin trước và sau cải tiến.
Đánh giá: So sánh kết quả trước và sau cải tiến. Cải thiện: Lập kế hoạch và thay đổi sau cải tiến. Khái niệm và hoạt động triển khai thực hiện 5s 1. Khái niệm 5S bắt nguồn từ 5 từ tiếng Nhật bắt đầu với chữ “S”: Seiri, Seiton, Seiso, Seiketsu, Shitsuke.
Tại các nước khác nhau, 5S được dịch thành các từ khác nhau song về cơ bản ý nghĩa của chúng không thay đổi. Trong tiếng Anh, 5S được dịch sang các từ tương ứng là Sort, Strainghten, Shine, Systemise và Sustain. Trong tiếng Việt, 5S bao gồm: Sàng lọc, Sắp xếp, Sạch sẽ, Săn sóc và Sẵn sàng. Seiri ( Sàng lọc) Seiri có nghĩa là phân loại, tổ chức các vật dụng theo trật tự.
Đây chính là bước đầu tiên các doanh nghiệp cần làm trong thực hành 5S. Nội dung chính trong Seiri là phân loại, di dời những vật dụng không cần thiết ở nơi làm việc. Khi xem lại nhà máy hay phòng làm việc của mình, có thể bạn sẽ nhận thấy các vật dụng không được ghi chính xác nơi lưu trữ, nhiều thứ không cần thiết cho công việc nhưng vẫn được lưu giữ lại, Do đó, nhiệm vụ của Seiri chính là phân loại các vật dụng cần thiết và các vật dụng không cần thiết, từ đó di dời hoặc thanh lý những vật dụng không cần thiết nhằm tạo nên một môi trường làm việc khoa 7 học. Một trong những cách thông dụng để thực hiện “Sàng lọc” là sử dụng “thẻ đỏ”, bất cứ các vật dụng nào không cần thiết cho công việc sẽ được gắn thẻ ngay lập tức.
Kết thúc quá trình này người phụ trách mỗi bộ phận có vật dụng gắn thẻ đỏ sẽ xem tại sao nó vẫn ở khu vực của mình. Sau đó là việc đưa ra quyết định loại bỏ hay tiếp tục giữ vật dụng đó theo cách nhất định. Với hoạt động trong Seiri, mọi thứ sẽ được phân loại một cách khoa học, từ đó có thể giảm thiểu lãng phí từ việc tìm kiếm di chuyển, đồng thời tạo nên môi trường làm việc an toàn hơn. Seiton (Sắp xếp) Trong tiếng Nhật, Seiton có nghĩa là sắp xếp mọi thứ gọn gàng và có trật tự.
Vì vậy, khi du nhập vào Việt Nam, Seiton được gọi là Sắp xếp. Sau khi đã loại bỏ các vật dụng không cần thiết thì công việc tiếp theo là tổ chức các vật dụng còn lại một cách hiệu quả theo tiêu chí dễ tìm, dễ thấy, dễ lấy và dễ trả lại. Thông thường việc này sẽ bắt đầu bằng việc xem xét công dụng và tần suất sử dụng các vật dụng còn lại, từ đó quyết định nên để chúng gần nhau hay không? Cần để dựa trên việc phân tích trình tự sao cho giảm thiểu thời gian di chuyển giữa các quá trình trong hệ thống. Ở bước này, các vật dụng cần được xác định vị trí sao cho dễ định vị nhất, theo nguyên tắc quản lý trực quan: “Một vị trí cho mỗi vật dụng, mỗi vật dụng có một vị trí duy nhất”.
Một điểm cần chú ý khi thực hiện Seiton là các vật dụng nên được đánh số hoặc dán nhãn tên giúp mọi người trong công ty có thể dễ dàng nhận biết và tìm kiếm. Với các hoạt động trong Seiton, môi trường làm việc sẽ trở nên thuận tiện, gọn gàng và thông thoáng hơn, khuyến khích tinh thần làm việc của nhân viên trong công ty. Seiso (Sạch sẽ) Seiso có nghĩa là làm vệ sinh và giữ nơi làm việc sạch sẽ. Công việc chính trong phần này là giữ gìn sạch sẽ trong toàn doanh nghiệp, Giữ gìn sạch sẽ được thực hiện thông qua việc tổ chức vệ sinh tổng thể và vệ sinh hàng ngày máy móc, vật dụng và khu vực làm việc.
Seiso hướng tới việc cải thiện môi trường làm việc, giảm thiểu rủi ro, tai nạn, đồng thời nâng cao sự chính xác của máy móc thiết bị (do ảnh hưởng của bụi bẩn). Phát động chương trình “5 phút Seiso” cuối mỗi ngày làm việc sẽ giúp cho mọi người thấm nhuần tư tưởng Seiso, duy trì sự sạch sẽ thường xuyên. Vệ sinh không chỉ là để giữ gìn vệ sinh trong công ty mà còn có thể kiểm tra máy móc, thiết bị từ đó phát hiện ra các vấn đề như bụi bẩn trong máy móc, các chỗ lỏng ốc, vỡ ốc… Nhờ đó, chúng ta nhanh chóng tìm ra các giải pháp cho các vấn đề đó, nâng cao năng suất của máy móc, thiết bị và đảm bảo an toàn trong lao động. Sau khi áp dụng được 3 chữ S đầu tiên, doanh nghiệp sẽ đạt được những kết quả đáng ngạc nhiên, góp phần nâng cao năng suất cũng như lợi nhuận cho doanh nghiệpeiso có nghĩa là làm vệ sinh và giữ nơi làm việc sạch sẽ.
Công việc chính trong phần này là giữ gìn sạch sẽ trong toàn doanh nghiệp, Giữ gìn sạch sẽ được thực hiện thông qua việc tổ chức vệ sinh tổng thể và vệ sinh hàng ngày máy móc, vật dụng và khu vực làm việc. Seiso hướng tới việc cải thiện môi trường làm việc, giảm thiểu rủi ro, tai nạn, đồng thời nâng cao sự chính xác của máy móc thiết bị (do ảnh hưởng của bụi bẩn). Phát động chương trình “5 phút Seiso” cuối mỗi ngày làm việc sẽ giúp cho mọi người thấm nhuần tư tưởng Seiso, duy trì sự sạch sẽ thường xuyên.