Luận văn điều trị đóng ống động mạch ở trẻ sinh non dưới 34 tuần tại Bệnh viện Nhi Trung ương

Nghiên cứu kết quả điều trị đóng ống động mạch bằng phương pháp nội khoa ở trẻ sinh non dưới 34 tuần tuổi thực hiện tại Bệnh viện Nhi Trung ương.

Trường đại học

Trường Đại học Y Dược – Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Nhi khoa

Tác giả

Lê Văn Huỳnh

Thể loại

Luận văn bác sĩ nội trú

2025

111
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan điều trị đóng ống động mạch ở trẻ sinh non

Ống động mạch là cấu trúc mạch máu quan trọng trong thời kỳ bào thai. Ống nối giữa động mạch phổi và động mạch chủ. Ở trẻ đủ tháng, ống động mạch thường tự đóng lại trong vài ngày đầu đời. Trẻ sinh non dưới 34 tuần có tỷ lệ tồn tại ống động mạch rất cao. Thành mạch chưa hoàn thiện là nguyên nhân chính gây ra tình trạng này. Nồng độ prostaglandin lưu hành ở mức cao làm giãn mạch liên tục. Tình trạng thiếu hụt thụ thể co mạch cũng khiến ống khó tự đóng. Ống động mạch tồn tại kéo dài gây luồng shunt trái sang phải. Tim trái chịu gánh nặng thể tích tuần hoàn lớn. Máu lên phổi nhiều gây phù phổi và suy hô hấp cấp. Trẻ sinh non cần được phát hiện sớm và can thiệp kịp thời. Bệnh viện Nhi Trung ương tiếp nhận nhiều ca bệnh sơ sinh phức tạp. Việc đánh giá chức năng ống động mạch có ý nghĩa sống còn. Phác đồ điều trị đóng ống động mạch bằng nội khoa luôn được ưu tiên hàng đầu. Thuốc giúp kích thích co cơ trơn thành mạch và làm teo lòng ống. Can thiệp đúng thời điểm sẽ cải thiện tiên lượng cho trẻ non tháng.

1.1. Khái niệm còn ống động mạch sơ sinh

Còn ống động mạch là dị tật tim mạch phổ biến ở trẻ sinh non dưới 34 tuần tuổi thai. Trong tử cung, ống động mạch dẫn máu từ thất phải vào động mạch chủ xuống mà không qua phổi. Sau khi trẻ cất tiếng khóc chào đời, phổi bắt đầu nở ra và trao đổi khí. Áp lực oxy trong máu tăng cao kích thích co thắt thành ống. Bình thường, quá trình đóng chức năng diễn ra trong 24 đến 72 giờ đầu sau sinh. Ở trẻ sinh non, phản ứng co thắt với oxy rất kém. Hệ thống cơ trơn thành ống chưa phát triển đầy đủ. Thành mạch mỏng và nhạy cảm với các chất gây giãn mạch nội sinh. Sự tồn tại liên tục của ống dẫn đến biến đổi huyết động nghiêm trọng. Việc theo dõi sát sao giúp xác định mức độ ảnh hưởng của ống động mạch.

1.2. Mục tiêu điều trị đóng ống động mạch

Mục tiêu hàng đầu của điều trị là đóng kín ống động mạch có ý nghĩa huyết động học. Can thiệp kịp thời giúp giảm bớt gánh nặng thể tích cho thất trái. Biện pháp này ngăn ngừa tình trạng quá tải tuần hoàn phổi gây phù phổi cấp. Lưu lượng máu tưới cho các cơ quan ngoại vi như não, thận và ruột được bảo tồn. Điều này hạn chế tối đa nguy cơ viêm ruột hoại tử và xuất huyết não thất. Điều trị sớm còn rút ngắn thời gian phụ thuộc máy thở của trẻ. Trẻ phục hồi nhanh hơn và giảm nguy cơ loạn sản phế quản phổi mạn tính. Bệnh viện Nhi Trung ương áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế để tối ưu hóa hiệu quả điều trị. Phác đồ can thiệp bảo đảm sự an toàn và nâng cao chất lượng sống cho trẻ nhỏ.

II. Thách thức điều trị đóng ống động mạch ở trẻ sinh non nhẹ cân

Ống động mạch lớn gây xáo trộn huyết động nặng nề ở trẻ sinh non dưới 34 tuần. Luồng shunt trái - phải làm tăng áp lực động mạch phổi. Phổi bị ứ huyết liên tục khiến trẻ suy hô hấp tiến triển nhanh. Nhu cầu hỗ trợ thông khí nhân tạo và nồng độ oxy hít vào tăng vọt. Hiện tượng ăn cắp máu tâm trương làm giảm dòng máu đến các cơ quan trọng yếu. Thiếu máu tưới mạc treo làm tăng nguy cơ viêm ruột hoại tử thủng ruột. Thiếu máu tưới thận gây thiểu niệu và suy giảm chức năng lọc cầu thận. Giảm tưới máu não làm tăng tần suất xuất huyết não thất độ nặng. Chẩn đoán xác định bệnh đòi hỏi kinh nghiệm lâm sàng và thiết bị hiện đại. Siêu âm doppler tim là tiêu chuẩn vàng để đo kích thước ống động mạch. Bác sĩ đánh giá tỷ lệ đường kính nhĩ trái trên động mạch chủ. Tuy nhiên, việc nhận định triệu chứng lâm sàng ở trẻ nhẹ cân còn nhiều khó khăn. Các dấu hiệu thường bị che lấp bởi hội chứng suy hô hấp sơ sinh. Bệnh viện Nhi Trung ương luôn phân tầng nguy cơ cẩn thận để đưa ra quyết định chính xác.

2.1. Nguy cơ biến chứng tim phổi nghiêm trọng

Shunt qua ống động mạch lớn gây quá tải tuần hoàn buồng tim trái. Tâm thất trái giãn dần và dẫn đến suy tim sung huyết thứ phát. Tình trạng tăng tưới máu phổi làm tổn thương hàng rào phế nang mao mạch. Trẻ dễ bị phù phổi cấp tái diễn và xuất huyết phổi ồ ạt. Bệnh nhi cần thở máy kéo dài với áp lực đường thở cao. Điều này làm tăng tỷ lệ xơ hóa phổi và loạn sản phế quản phổi. Nhiều trường hợp không thể cai máy thở nếu ống động mạch không được đóng kín. Nguy cơ nhiễm trùng bệnh viện và viêm phổi thở máy cũng tăng theo thời gian nằm viện. Do đó, việc theo dõi sát huyết động phổi có vai trò đặc biệt quan trọng.

2.2. Khó khăn trong chỉ định điều trị thuốc

Lựa chọn thuốc đóng ống động mạch đòi hỏi sự cân nhắc thận trọng giữa lợi ích và nguy cơ. Trẻ sinh non có chức năng gan thận rất non yếu. Thuốc chống viêm không steroid cổ điển như indomethacin hay ibuprofen có thể làm co mạch thận. Tác dụng phụ này dẫn đến tăng nồng độ ure và creatinin huyết tương. Thuốc cũng có nguy cơ gây rối loạn đông máu do ức chế ngưng tập tiểu cầu. Trẻ dễ bị xuất huyết tiêu hóa hoặc xuất huyết dưới da. Bên cạnh đó, tình trạng tăng áp lực động mạch phổi tồn tại có thể cản trở việc dùng thuốc. Bác sĩ phải tiến hành xét nghiệm sinh hóa máu thường xuyên để điều chỉnh liều kịp thời.

III. Các phương pháp điều trị đóng ống động mạch ở trẻ sinh non

Điều trị đóng ống động mạch hiện nay tập trung vào liệu pháp dùng thuốc nội khoa. Ibuprofen và Paracetamol là hai hoạt chất chính được ứng dụng phổ biến. Cơ chế chung là ức chế enzym cyclooxygenase để làm giảm nồng độ prostaglandin tuần hoàn. Khi nồng độ prostaglandin giảm, lớp cơ trơn của thành ống động mạch co thắt lại. Ibuprofen đường tĩnh mạch hoặc đường uống mang lại tỷ lệ đóng ống cao sau liệu trình. Tuy nhiên, thuốc đòi hỏi giám sát chức năng thận và số lượng tiểu cầu cẩn thận. Paracetamol truyền tĩnh mạch là giải pháp thay thế an toàn và hiệu quả vượt trội. Thuốc tác động vào vị trí peroxidase của men cyclooxygenase. Paracetamol không gây co mạch ngoại vi nên ít ảnh hưởng đến tưới máu thận và mạc treo ruột. Men gan AST và ALT có thể tăng nhẹ nhưng tự hồi phục nhanh chóng. Trẻ đáp ứng thuốc tốt sẽ cải thiện đáng kể các chỉ số khí máu động mạch. Việc kết hợp chăm sóc hỗ trợ như hạn chế dịch và thông khí tối ưu giúp tăng tỷ lệ thành công. Phẫu thuật thắt ống chỉ đặt ra khi điều trị nội khoa thất bại hoặc có chống chỉ định.

3.1. Phác đồ sử dụng paracetamol tĩnh mạch

Paracetamol truyền tĩnh mạch được chỉ định rộng rãi trong điều trị đóng ống động mạch ở trẻ sinh non. Phác đồ thông thường sử dụng liều 15 mg/kg mỗi 6 giờ trong thời gian 3 đến 6 ngày. Thuốc ức chế men prostaglandin synthetase tại vị trí peroxidative. Nghiên cứu thực tế cho thấy tỷ lệ đóng ống thành công tương đương với ibuprofen. Điểm nổi bật của paracetamol là không làm suy giảm chức năng thận hay gây co thắt mạch mạc treo. Trẻ dung nạp thuốc tốt và ít gặp biến chứng chảy máu đường tiêu hóa. Bác sĩ theo dõi hoạt độ men gan AST và ALT trước và sau đợt điều trị. Phần lớn trường hợp men gan chỉ tăng thoáng qua và trở về bình thường.

3.2. Theo dõi cận lâm sàng trong điều trị

Quá trình dùng thuốc đòi hỏi theo dõi xét nghiệm sinh hóa và huyết học nghiêm ngặt. Bệnh nhi được định lượng ure và creatinin huyết thanh định kỳ sau 3 ngày và 6 ngày. Điều này giúp phát hiện sớm tổn thương thận cấp tính khi sử dụng ibuprofen. Số lượng tiểu cầu và các yếu tố đông máu được kiểm tra để phòng ngừa xuất huyết. Siêu âm tim lặp lại là bắt buộc để đánh giá kích thước ống động mạch và tỷ lệ LA/Ao. Đo vận tốc dòng máu qua ống giúp xác định mức độ co nhỏ lòng mạch. Các chỉ số khí máu động mạch như pH, HCO3 và độ kiềm dư BE phản ánh cải thiện oxy hóa mô. Xét nghiệm đầy đủ bảo đảm liệu trình điều trị an toàn tuyệt đối.

IV. Hiệu quả điều trị đóng ống động mạch ở trẻ sinh non thực tế

Kết quả lâm sàng tại Bệnh viện Nhi Trung ương khẳng định tính ưu việt của phác đồ nội khoa. Đa số trẻ sinh non dưới 34 tuần có đáp ứng tốt sau khi dùng đủ liệu trình thuốc. Tỷ lệ đóng ống thành công cao giúp trẻ tránh được can thiệp phẫu thuật xâm lấn. Dấu hiệu suy tim sung huyết và phù phổi thuyên giảm nhanh chóng sau khi ống co nhỏ. Trẻ giảm dần nhu cầu hỗ trợ oxy và sớm cai thở máy áp lực dương. Sự cải thiện rõ rệt của các chỉ số khí máu chứng minh tuần hoàn phổi đã phục hồi. Tác dụng phụ trên thận của ibuprofen và trên gan của paracetamol phần lớn ở mức độ nhẹ. Đội ngũ y bác sĩ sơ sinh kiểm soát tốt các biến cố bất lợi thông qua điều chỉnh liều chính xác. Việc cá thể hóa phác đồ điều trị đóng vai trò quyết định đến sự thành công của ca bệnh. Nghiên cứu thực tiễn cung cấp cơ sở dữ liệu tin cậy cho công tác chăm sóc sơ sinh non tháng toàn quốc. Đây là bước tiến lớn nâng cao cơ hội sống khỏe mạnh cho trẻ sinh non.

4.1. Cải thiện chức năng hô hấp và tuần hoàn

Đóng ống động mạch thành công giúp tái lập lưu lượng tuần hoàn sinh lý bình thường. Áp lực động mạch phổi hạ xuống nhanh chóng giúp giảm hiện tượng thoát dịch vào phế nang. Dung tích phổi cải thiện rõ rệt cho phép giảm dần thông số máy thở. Trẻ sinh non hạn chế được tổn thương nhu mô phổi do độc tính của oxy liều cao. Quá trình trao đổi khí tại phổi diễn ra thuận lợi, nâng cao độ bão hòa oxy mao mạch. Đồng thời, tưới máu cho các cơ quan ngoại vi như ruột, thận và hệ thần kinh trung ương được phục hồi toàn diện. Trẻ dung nạp sữa tốt hơn và bắt đầu tăng trưởng cân nặng ổn định. Những cải thiện này mang lại tiên lượng phát triển thể chất và thần kinh vượt trội.

4.2. Khuyến nghị ứng dụng lâm sàng tại cơ sở

Các trung tâm sơ sinh cần chủ động xây dựng quy trình sàng lọc và chẩn đoán sớm còn ống động mạch. Việc siêu âm tim định kỳ cho mọi trẻ sinh non dưới 34 tuần có ý nghĩa then chốt. Paracetamol nên được cân nhắc là lựa chọn ưu tiên cho trẻ có nguy cơ suy thận hoặc rối loạn đông máu. Ibuprofen phù hợp cho những trường hợp chức năng thận hoàn toàn bình thường. Trong suốt liệu trình điều trị, nhân viên y tế cần theo dõi sát các xét nghiệm sinh hóa máu và nước tiểu. Khi điều trị nội khoa sau hai liệu trình không đạt kết quả, hội chẩn can thiệp ngoại khoa là bắt buộc. Phối hợp liên chuyên khoa chặt chẽ sẽ tối ưu hóa cơ hội phục hồi cho trẻ non tháng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/10/2026
Kết quả điều trị đóng ống động mạch bằng phương pháp nội khoa ở trẻ sinh non dưới 34 tuấn tại bệnh viện nhi trung ương

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Định nghĩa * Trẻ non tháng là trẻ sinh ra sống trước khi tròn 37 tuần (37 tuần 0/7) tính từ ngày đầu của kỳ kinh cuối, trong đó8: Non tháng muộn : 34 tuần 0/7 đến 36 tuần 6/7. Non vừa: 32 tuần đến 33 tuần 6/7. Rất non tháng: 28 tuần đến 31 tuần 6/7.

Cực non tháng: <28 tuần 0/7. Tính ngày tuổi thai từ ngày thứ nhất của chu kỳ kinh cuối. Ngày thụ thai được cho là khoảng 2 tuần sau ngày thứ nhất của chu kỳ kinh cuối. * Trẻ nhẹ cân là trẻ có cân nặng lúc sinh <2500 gram.

Nhẹ cân có thể do non tháng hoặc do chậm tăng rưởng trong tử cung hoặc do cả hai, trong đó: Nhẹ cân vừa: 1500 – 2499 gram. Rất nhẹ cân: 1000 – 1499 gram. Cực nhẹ cân: <1000 gram. * Ống động mạch là ống nối giữa động mạch phổi và động mạch chủ, ống là một phần của cung động mạch chủ thứ 6, ở điểm ngoài chỗ xuất phát của động mạch phổi.

Ở trẻ sơ sinh đủ tháng đóng DA chức năng là 50% trong vòng 24 giờ sau sinh, 90% khi đủ 48 giờ và hầu hết đóng ống sau 72 giờ1. * Còn ống động mạch là tình trạng thất bại đóng ống động mạch chức năng sau 48 giờ và về mặt giải phẫu sau 3 tuần. *Còn ống động mạch ảnh hưởng huyết động (hemodynamic significant Patent Ductus Arteriosus – hsPDA): Là tình trạng ống động mạch lớn có biểu hiện lâm sàng và/ hoặc siêu âm có bằng chứng ảnh hưởng huyết động như tăng tuần hoàn phổi, thiếu máu cơ quan9. Phôi thai học và sự phát triển còn ống động mạch 1.

Phôi thai học Vào ngày thứ 17, trung bì lá tạng của túi noãn hoàng tụ lại tạo nên đảo máu, các tế bào trung bì là các nguyên bào tạo máu. Vào ngày thứ 18 sự tạo mạch bắt đầu, trung bì lá tạng biệt hóa thành dây sinh mạch. Dây sinh mạch sau đó hội tụ, tăng sinh và tạo lòng trở thành hệ mạch máu của phôi. Ống động mạch bào thai là đoạn máu ngắn và rộng có chiều dài thay đổi, có nguồn gốc từ cung động mạch chủ thứ 6 bên trái, xuất hiện khoang tuần thứ 3–4 sau thụ thai.

Ống động mạch phải biến đi sớm, ống động mạch trái tồn tại suốt đời sống phôi thai và sẽ thoái triển thành dây thành động mạch sau khi trẻ ra đời. Hình dáng và kích thước ống động mạch phụ thuộc vào huyết động học khi trẻ còn trong tử cung. Hình dạng thường gặp nhất là hình nón. Các nghiên cứu vi thể ống động mach đã thống nhất rằng: Ống động mạch là động mạch cơ được cấu tạo từ 3 lớp: Lớp áo trong, lớp áo giữa, lớp áo ngoài hay còn gọi là thanh mạc.

Cấu trúc mô học của ống động mạch khác với động mạch chủ và thân động mạch phổi kế bên. Mô ống động mạch trẻ sơ sinh được sắp xếp khá lỏng lẻo so với mô động mạch chủ và động mạch phổi8. Phát triển phôi thai học ống động mạch8 5 1. Sinh lý bệnh còn ống động mạch Ống động mạch được giữ thông trong giai đoạn phôi thai nhờ sự tạo liên tục nồng độ cao các prostaglandin tuần hoàn và phân áp oxy trong máu động mạch thấp ở bào thai.

Thành của DA là nơi tổng hợp nên một số yếu tố giãn mạch nội sinh như NO và các prostaglandins tại chỗ. Ngoài ra nhau thai tổng hợp nên một lượng lớn cả prostaglandin tuần hoàn E1 và prostaglandin E2. Prostaglandin E2 phóng thích vào tuần hoàn1,8. Hiện nay đã có nhiều bằng chứng cho thấy các prostaglandin E1 và prostaglandin E2 (PGE2), có tác dụng giãn ống động mạch, khả năng làm giãn của prostaglandin E2 cao hơn nhiều so với prostaglandin E1.

Cơ chế tác động giãn mạch của prostaglandins qua trung gian AMP vòng. Prostaglandins làm tăng AMP vòng đưa đến các kết quả sau: Giảm tính nhạy cảm protein co thắt (contractile protein) của cơ trơn DA với Ca2+. Giảm phóng thích Ca2+ nội bào từ lưới nội bào tương gây ức chế hoạt động co cơ trơn mạch máu. Sau sinh, nồng độ prostaglandins giảm nhanh chóng do mất nguồn gốc tạo thành từ nhau thai và đồng thời tăng dòng máu đến phổi.

Định lượng nồng độ prostaglandin E2 tuần hoàn cho thấy giảm đi 10 lần vào thời điểm 1 giờ và giảm đi 20 lần vào thời điểm 3 giờ sau sinh1,8. NO được tìm thấy cả trong lớp tế bào nội mô DA và mạch của mạch (vasa vasorum). Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ đóng DA giảm đi đáng kể ở bệnh nhân dùng nitroprusside hay nitroglycerin. Cơ chế giải thích cho hiện tượng này là do nitroprusside hay nitroglycerin tác động làm gia tăng nucleotide vòng nội bào làm giảm co thắt DA qua trung gian Ca2+.

Vì vậy vai trò prostaglandins quan trọng hơn nhiều so với NO trong giữ thông DA và bản thân dùng NO không thể vượt qua tác động co thắt cơ trơn DA do kháng viêm không steroids. Khi có sự gia tăng phân áp oxy trong máu động mạch xảy ra sau sinh, 6 ngoài làm giảm tổng hợp prostaglandins còn góp phần gây tăng phóng thích entthelin-1 từ mô DA qua trung gian Cytochrome P450 hemoprotein. Endothelin-1 có tác động tăng phóng thích Ca2+ nội bào từ lưới nội bào tương gây co cơ trơn DA. Ống động mạch trẻ sinh non nhạy cảm với tác dụng của prostaglandins và NO hơn trẻ đủ tháng.

Như vậy, sự giữ thông DA trong giai đoạn bào thai liên quan đến: Mất đi sự nhạy cảm DA và giảm phóng thích Ca2+ nội bào từ lưới nội bào tương do prostagladins và vai trò thứ yếu của NO. Còn sự đóng ống động mạch sau sinh liên quan đến: Mất nguồn gốc tạo thành prostaglandins từ nhau thai và endothelin-1 do gia tăng phân áp oxy trong máu động mạch. Trong hai yếu tố trên, mất đi tác động của prostaglandins giãn mạch đóng vai trò trung tâm quyết định đóng DA ở trẻ sơ sinh, mặc dù yếu tố chính gây co DA là do tăng phân áp oxy trong máu8. Sự đóng ống động mạch sau sinh Khả năng đóng ống động mạch phụ thuộc vào tuổi thai và tuổi sau sinh.

Vào ngày thứ 3, tỷ lệ đóng dao động từ 34% đến 55% tùy theo tuổi thai và tăng lên từ 41% đến 78% khi trẻ được 7 ngày tuổi3. Đóng ống động mạch sau sinh diễn ra theo hai giai đoạn. Trong vòng 10- 18 giờ sau sinh, kháng lực mạch máu phổi giảm xuống, tại DA luồng thông từ phải sang trái chuyển dần qua từ trái sang phải và dần dần đóng về mặt chức năng. Có sự đóng về mặt chức năng là mất đi tác động của prostaglandins giãn mạch cùng với sự co thắt cơ trơn của DA do tăng phân áp oxy trong máu động mạch.

Từ 2– 4 ngày sau là bắt đầu đóng về mặt giải phẫu liên quan đến sự tạo gờ nội mô8. Đóng về mặt giải phẫu được hoàn tất vào khoảng 2-3 tuần sau sinh. Gần đây, siêu âm tim màu giúp cho thấy DA đóng hoàn toàn vào lúc 18 giờ sau sinh ở 50% trẻ sơ sinh. DA không còn khả năng tự đóng sau 3 tháng đối với trẻ sinh đủ tháng và sau 12 tháng đối với trẻ sơ sinh đẻ non.

Giai đoạn đầu tiên 7 xảy ra rất cần thiết cho đóng DA về mặt giải phẫu theo sau đó. Vì gờ nội mô xuất hiện sớm từ tháng thứ tư của thai kỳ nên một số thuốc mẹ dùng có thể gây đóng DA khi trẻ còn trong tử cung, đặc biệt là các thuốc ức chế prostagladins. Hở van 3 lá thoáng qua ở trẻ sơ sinh cũng được cho là do hậu quả đóng sớm DA trong thời kỳ bào thai. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình đóng của ống động mạch Còn ống động mạch ở trẻ sinh non là tình trạng có cơ chế bệnh sinh phức tạp, chịu ảnh hưởng đồng thời của sự chưa trưởng thành về cấu trúc thành ống động mạch và nhiều yếu tố sinh lý – bệnh lý trong giai đoạn sau sinh.

Nhiều nghiên cứu cho thấy khả năng đóng ống động mạch ở trẻ sinh non chịu tác động của tuổi thai, cân nặng lúc sinh, tình trạng hô hấp, việc sử dụng các biện pháp điều trị hô hấp, điều trị corticoid trước sinh, nhiễm trùng sơ sinh, tình trạng dịch và tuổi sau sinh của trẻ8-11. Tuổi thai và cân nặng lúc sinh Ở trẻ sinh non, tính nhạy cảm của ống động mạch với oxy thấp hơn so với trẻ đủ tháng. Do đó, sau sinh, sự co thắt của ống động mạch và quá trình thiếu oxy cục bộ trong thành ống (yếu tố khởi phát cho hiện tượng chết tế bào và tái cấu trúc thành ống không diễn ra đầy đủ). Hậu quả là quá trình đóng ống động mạch về mặt giải phẫu bị trì hoãn hoặc không hoàn toàn, làm tăng nguy cơ tồn tại ống động mạch và tái mở ống sau khi đã đóng chức năng.

Bên cạnh đó, ở trẻ sinh non, ống động mạch nhạy cảm hơn với các chất giãn mạch như prostaglandin E₂ và NO, góp phần duy trì tình trạng mở ống sau sinh. Nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ PDA có mối liên quan chặt chẽ và tỷ lệ nghịch với tuổi thai cũng như cân nặng lúc sinh của trẻ. Trẻ càng non tháng và càng nhẹ cân thì nguy cơ còn ống động mạch càng cao, đồng thời khả năng đóng tự nhiên của ống động mạch cũng giảm10,11. Tuổi sau sinh Tuổi sau sinh là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng đóng ống động mạch ở trẻ sinh non.

Trong những ngày đầu sau sinh, nồng độ prostaglandin lưu hành còn cao và tình trạng thiếu trưởng thành chức năng của cơ trơn thành ống động mạch khiến ống động mạch dễ duy trì trạng thái mở. Theo thời gian, khi chức năng hô hấp và tuần hoàn dần ổn định, nồng độ prostaglandin giảm, đồng thời tính nhạy cảm của ống động mạch với oxy tăng lên, làm tăng khả năng co thắt và đóng ống động mạch. Tuy nhiên, ở trẻ sinh non, đặc biệt là trẻ rất non và cực non, quá trình này diễn ra chậm hơn so với trẻ đủ tháng, dẫn đến tỷ lệ tồn tại ống động mạch cao trong tuần đầu sau sinh. Một số nghiên cứu cho thấy khả năng đóng tự nhiên của ống động mạch tăng dần theo tuổi sau sinh, song nếu ống động mạch vẫn tồn tại sau những ngày đầu đời, nguy cơ hình thành PDA có ý nghĩa huyết động và cần can thiệp điều trị sẽ tăng lên rõ rệt9-12.

Suy hô hấp Suy hô hấp sau sinh gây tình trạng thiếu oxy máu và rối loạn thông khí, ảnh hưởng trực tiếp đến cơ chế co thắt của ống động mạch sau sinh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Cách trích dẫn tài liệu này

Chuẩn Việt Nam
Lê Văn Huỳnh (2025), Kết quả điều trị đóng ống động mạch bằng phương pháp nội khoa ở trẻ sinh non dưới 34 tuần tại Bệnh viện Nhi Trung ương, Luận văn bác sĩ nội trú, Trường Đại học Y Dược – Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên.
APA 7
Lê, V. H. (2025). Kết quả điều trị đóng ống động mạch bằng phương pháp nội khoa ở trẻ sinh non dưới 34 tuần tại Bệnh viện Nhi Trung ương [Luận văn bác sĩ nội trú, Trường Đại học Y Dược – Đại học Thái Nguyên]. vn-document.net. https://vn-document.net/document/ket-qua-dieu-tri-dong-ong-dong-mach-bang-phuong-phap-noi-khoa-o-tre-sinh-non-duoi-34-tuan-tai-benh-vien-nhi-trung-uong/9535788467
IEEE
V. H. Lê, "Kết quả điều trị đóng ống động mạch bằng phương pháp nội khoa ở trẻ sinh non dưới 34 tuần tại Bệnh viện Nhi Trung ương," Luận văn bác sĩ nội trú, Trường Đại học Y Dược – Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên, 2025. [Online]. Available: https://vn-document.net/document/ket-qua-dieu-tri-dong-ong-dong-mach-bang-phuong-phap-noi-khoa-o-tre-sinh-non-duoi-34-tuan-tai-benh-vien-nhi-trung-uong/9535788467

Tạo trích dẫn cho tài liệu khác