ĐẶT VẤN ĐỀ Già hóa dân số là một trong những xu hướng quan trọng nhất của những năm cuối thế kỷ 20 và trong thế kỷ 21. Con người sống lâu hơn nhờ các điều kiện tốt hơn về chế độ dinh dưỡng, vệ sinh, tiến bộ y học, chăm sóc y tế, giáo dục và đời sống kinh tế. Trên thế giới, cứ một giây, có hai người tổ chức sinh nhật tròn 60 tuổi – trung bình một năm có gần 58 triệu người tròn 60 tuổi (1). Già hóa dân số gia tăng nhanh nhất ở các nước đang phát triển, bao gồm cả các nước có đông dân số trẻ.
Giai đoạn 2010 - 2015, tuổi thọ trung bình của các nước phát triển là 78 và của các nước đang phát triển là 68 tuổi. Đến những năm 2045 - 2050, dự kiến tuổi thọ trung bình sẽ tăng lên đến 83 tuổi ở các nước phát triển và 74 tuổi ở các nước đang phát triển (2,3). Hơn 3 thập kỷ vừa qua, Việt Nam đã có những thay đổi lớn về nhân khẩu học. Từ năm 1989 đến 2021, NCT ở Việt Nam không những tăng nhanh về số lượng với 4,6 triệu (năm 1989), 6,2 triệu (1999) và 8,6 triệu (năm 2011), 12,6 triệu người (năm 2021) mà tỷ lệ NCT cũng tăng lên tương ứng, lần lượt là 7,1%, 8,1%, 10% và 12,6% (4) (17).
Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn già hóa dân số từ năm 2011, trở thành một trong những quốc gia có tốc độ già hóa nhanh nhất thế giới. Khi tuổi thọ cao thì gánh nặng bệnh tật cũng rất lớn, đặc biệt là đối với NCT càng dễ mắc bệnh, không những một bệnh mà nhiều bệnh. Điều này dẫn đến nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho NCT ngày càng cao. Người cao tuổi Việt Nam vẫn chưa thực sự khỏe mạnh như mong muốn.
Điều tra về NCT năm 2011 chỉ ra rằng hơn 55% và trên 10% số người đánh giá sức khỏe bản thân là yếu và rất yếu. Nghiên cứu này cũng cho thấy gần 72% NCT gặp ít nhất một loại khó khăn về vận động và 37,6% gặp ít nhất một trở ngại trong sinh hoạt hàng ngày (5). Tỷ lệ mắc các bệnh mạn tính khá cao và thường mắc nhiều bệnh đồng thời, trung bình một người mắc gần 2,7 bệnh (6). Các chính sách chăm sóc NCT ở nước ta trong thời gian qua đã ít nhiều mang tính hệ thống.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy một số chính sách chăm sóc NCT hiện nay vẫn còn hạn chế và bất cập. Một số văn bản chính sách còn chung chung, 2 thiếu tính thực tế. Những chính sách trợ giúp mới chỉ tập trung vào một số chế độ trợ cấp xã hội thường xuyên cho những NCT có hoàn cảnh đặc biệt, khó khăn; một số ưu đãi khác cho NCT còn hạn hẹp, chỉ mới ưu tiên trong khám chữa bệnh, đi lại bằng phương tiện giao thông công cộng, giảm phí tham quan, quà chúc thọ hoặc phí mai táng). Năm 2016, Bộ Y tế ban hành Quyết định số 7618/QĐ-BYT về việc phê duyệt đề án chăm sóc sức khỏe người cao tuổi giai đoạn 2017-2025 (7).
Quyết định nhằm thích ứng với giai đoạn già hóa dân số góp phần thực hiện Chương trình hành động quốc gia về NCT. Một trong những mục tiêu quan trọng của đề án là xây dựng và phổ biến mô hình chăm sóc sức khỏe (CSSK) dài hạn cho NCT. Trên cơ sở này, đề tài cấp Bộ Y tế “Nghiên cứu thực trạng và đánh giá hiệu quả mô hình can thiệp tăng cường chăm sóc sức khỏe người cao tuổi ở một số địa phương của Việt Nam” do nghiên cứu sinh làm chủ nhiệm đã được xây dựng và triển khai. Đề tài đã được phê duyệt hoàn thành vào năm 2021.
Địa bàn nghiên cứu được lựa chọn là tỉnh Hải Dương và tỉnh Hoà Bình. Tỉnh Hải Dương là một trong 10 tỉnh có chỉ số già hoá cao nhất toàn quốc với tỷ lệ NCT khá cao (13,5%) với tuổi thọ trung bình tăng từ 71,9 tuổi năm 1999 lên 74,5 tuổi năm 2014 (8). Còn ở tỉnh Hòa Bình, tỷ lệ NCT thấp hơn trung bình cả nước (8,9%) (8). Dựa vào đề tài cấp Bộ này, nghiên cứu sinh đã sử dụng một số kết quả để xây dựng và hoàn thiện luận án “Kết quả can thiệp tuổi già khỏe mạnh tại tỉnh Hải Dương và Hòa Bình giai đoạn 2018 - 2021”.
Luận án này thực hiện thêm các phân tích thống kê chuyên sâu cũng như phân tích bổ sung thêm những kết quả từ đề tài cấp Bộ để trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau: Trước can thiệp, thực trạng sức khỏe và chất lượng cuộc sống (CLCS) của NCT tại địa bàn nghiên cứu như thế nào? Can thiệp “Tuổi già khỏe mạnh” tại tỉnh Hải Dương và tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2018 - 2021 đã làm thay đổi thay đổi CLCS của NCT ra sao? Mức độ phù hợp của can thiệp “Tuổi già khỏe mạnh” giai đoạn 2018 - 2021 tại 2 tỉnh Hải Dương và tỉnh Hòa Bình như thế nào?. Điểm mới của đề tài là xây dựng và đánh giá hiệu quả của mô hình can thiệp “Tuổi già khỏe mạnh” thông qua đánh giá thay đổi chất lượng cuộc sống, đặc biệt là thay đổi về khía cạnh sức khỏe tinh thần, với cách tổ chức các hoạt động dựa trên vào cộng đồng, có sự tham 3 gia của NCT - nhóm đối tượng trung tâm của mô hình – trong tự tổ chức, tham gia và duy trì các hoạt động với hình thức đa dạng và phù hợp với bối cảnh và địa bàn can thiệp. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng sức khỏe và chất lượng cuộc sống người cao tuổi tại thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương và huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình năm 2018.
Đánh giá sự thay đổi chất lượng cuộc sống của người cao tuổi thông qua can thiệp “Tuổi già khỏe mạnh” tại tỉnh Hải Dương và tỉnh Hòa Bình. Phân tích mức độ phù hợp của can thiệp “Tuổi già khỏe mạnh” tại tỉnh Hải Dương và tỉnh Hòa Bình. 4 Chương 1 TỔNG QUAN 1. Một số khái niệm Người cao tuổi (NCT): Khái niệm người cao tuổi giữa nước ta và thế giới khác nhau, như Quỹ Dân số Liên hợp quốc định nghĩa người cao tuổi là những người từ 65 tuổi trở lên.
Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng khái niệm người cao tuổi theo Luật Người cao tuổi năm 2009 là từ 60 tuổi trở lên, tính cả đối với nam và nữ (Điều 2, Luật NCT Việt Nam) (9). Già hoá dân số hay còn gọi là giai đoạn “dân số đang già” là khi tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên chiếm từ 7% tổng dân số trở lên; hoặc khi tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên chiếm từ 10% tổng dân số trở lên. Giai đoạn “dân số già” còn gọi là giai đoạn “dân số đã già” là khi dân số từ 65 tuổi trở lên chiếm từ 14% tổng dân số trở lên. Đây là một quá trình diễn ra khi tỷ lệ người lớn và NCT tăng lên, còn tỷ lệ trẻ em và vị thành niên giảm đi, cũng là lúc mức sinh giảm xuống và tuổi thọ trung bình không thay đổi hoặc tăng lên (10).
Cơ cấu dân số vàng là cứ có 2 người trong độ tuổi lao động thì có 1 người trong độ tuổi phụ thuộc (10). Tại Việt Nam, độ tuổi lao động là từ 15 đến 59 tuổi, độ tuổi phụ thuộc trẻ là dưới 15 tuổi, độ tuổi phụ thuộc già là từ trên 60 tuổi. Tuổi già khỏe mạnh là một quá trình phát triển và duy trì khả năng thực hiện các chức năng để tạo nên cuộc sống thoải mái trong giai đoạn tuổi già. Già hóa tích cực là một quá trình tối đa hóa các cơ hội liên quan đến y tế, sự tham gia và đảm bảo an sinh từ đó tăng cường chất lượng cuộc sống cho NCT (10).
Chất lượng cuộc sống: Theo WHO, chất lượng cuộc sống (CLCS) là “Quan niệm của cá nhân về vị trí xã hội của họ trong bối cảnh văn hóa và hệ thống giá trị mà họ sống; và trong mối quan hệ với các mục tiêu, kỳ vọng, chuẩn mực và những mối quan tâm của họ” (11). Chất lượng cuộc sống của người cao tuổi là sự hiểu biết của cá nhân về vị trí xã hội của họ trong bối cảnh văn hóa và hệ thống các giá trị, và trong mối quan hệ với các mục tiêu, kỳ vọng, chuẩn mực và mối quan tâm của họ (11). 5 Năng lực cung cấp dịch vụ sức khỏe cho người cao tuổi tại cơ sở y tế tuyến cơ sở được đánh giá dựa vào sự sẵn có và sẵn sàng đáp ứng các yếu tố như: i) nhân lực, ii) thuốc, trang thiết bị và kỹ thuật; iii) hoạt động/dịch vụ; iv) thông tin, báo cáo; và vi) tài chính. Yếu tố chính sách, quản lý và điều hành cũng ảnh hưởng đến những năng lực này (12).
Mức độ phù hợp: Một can thiệp khi triển khai cần phải phù hợp với nhu cầu, ở cả phía đối tượng đích (giải quyết các vấn đề của đối tượng đích) và cũng phải phù hợp với các đặc thù của chủ đề nghiên cứu (13). Tính phù hợp có ý nghĩa quan trọng trong thiết kế nghiên cứu, lập kế hoạch hoạt động của can thiệp và cả tổng chi phí của can thiệp. Mức độ phù hợp là đánh giá về sự phù hợp của can thiệp ở một địa bàn cụ thể hoặc cho một đối tượng đích cụ thể (ví dụ: người cung cấp dịch vụ y tế hoặc khách hàng) hoặc vấn đề cụ thể (13). Thực trạng sức khỏe người cao tuổi trên thế giới và tại Việt Nam 1.
Khái quát sức khỏe của người cao tuổi Khi tuổi cao, đồng nghĩa với việc sức khỏe giảm sút và mắc các bệnh người già. Các bệnh thường gặp ở NCT bao gồm mất thính giác, đục thủy tinh thể và các tật khúc xạ, đau lưng và cổ, viêm khớp mãn tính, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, tiểu đường, trầm cảm và chứng sa sút trí tuệ. Người cao tuổi gặp phải một số vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản như ảnh hưởng của mãn kinh, ung thư sinh dục, sa sinh dục v.v… Đáng lưu ý là, NCT cùng lúc có thể mắc nhiều chứng bệnh khác nhau. Hơn nữa, NCT còn phải chịu nhiều bệnh do lão hóa gây ra (14).
Khi tuổi càng cao, NCT gặp nhiều tình trạng sức khoẻ phức tạp, không thuộc bất cứ một phân loại bệnh cụ thể nào, gọi là hội chứng lão khoa như suy giảm sức khỏe, tiểu không tự chủ, ngã, mê sảng và viêm loét do tỳ đè. Hội chứng lão khoa là một chỉ báo thường được sử dụng cho tình trạng sức khỏe và tử vong của NCT chứ không chỉ là loại hoặc số lượng bệnh cụ thể hiện mắc.