Kết Quả Can Thiệp Giúp Người Già Khỏe Mạnh Tại Tỉnh Hải Dương Và Hòa Bình

Luận án tiến sĩ phân tích kết quả can thiệp nâng cao sức khỏe người cao tuổi tại Hải Dương và Hòa Bình, góp phần cải thiện chất lượng sống.

Chuyên ngành

Y Tế Công Cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2021

223
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Một số khái niệm

1.2. Năng lực cung cấp dịch vụ sức khỏe cho người cao tuổi tại cơ sở y tế tuyến cơ sở

1.3. Mức độ phù hợp

1.4. Thực trạng sức khỏe người cao tuổi trên thế giới và tại Việt Nam

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Thực trạng sức khỏe và chất lượng cuộc sống người cao tuổi tại thành phố Chí Linh, Hải Dương và huyện Kim Bôi, Hòa Bình năm 2018

3.2. Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu

3.3. Sức khỏe người cao tuổi tại thành phố Chí Linh, Hải Dương và huyện Kim Bôi, Hòa Bình năm 2018

3.4. Chất lượng cuộc sống người cao tuổi tại thành phố Chí Linh, Hải Dương và huyện Kim Bôi, Hòa Bình năm 2018

3.5. Một số yếu tố liên quan tới Chất lượng cuộc sống của người cao tuổi tại thành phố Chí Linh, Hải Dương và huyện Kim Bôi, Hòa Bình năm 2018

3.6. Sự thay đổi chất lượng cuộc sống của người cao tuổi thông qua can thiệp “Tuổi già khỏe mạnh” tại tỉnh Hải Dương và Hòa Bình giai đoạn 2018 - 2021

3.7. Tính phù hợp của chương trình can thiệp

3.7.1. Phù hợp về phương pháp tiếp cận của can thiệp

3.7.2. Phù hợp về hoạt động can thiệp

3.7.3. Phù hợp về chính sách quản lý, điều hành và phối hợp của địa phương

3.7.4. Phù hợp về cần thiết và ủng hộ của các bên liên quan

3.7.5. Phù hợp về nhân lực

3.7.6. Phù hợp về thuốc, trang thiết bị và cơ sở hạ tầng

3.7.7. Phù hợp về tài chính

3.8. Bàn luận về thực trạng sức khỏe và chất lượng cuộc sống người cao tuổi tại thành phố Chí Linh, Hải Dương và huyện Kim Bôi, Hòa Bình năm 2018

3.9. Bàn luận về sự thay đổi chất lượng cuộc sống của người cao tuổi thông qua can thiệp “Tuổi già khỏe mạnh” tại tỉnh Hải Dương và Hòa Bình giai đoạn 2018 - 2021

3.10. Bàn luận về mức độ phù hợp của can thiệp “Tuổi già khỏe mạnh” tại tỉnh Hải Dương và Hòa Bình giai đoạn 2018 - 2021

3.11. Điểm mạnh và Hạn chế của can thiệp

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Phụ lục 1 - Bộ câu hỏi đo lường chất lượng cuộc sống

Phụ lục 2 - Hướng dẫn phỏng vấn định tính

Phụ lục 2a - Hướng dẫn phỏng vấn sâu

Phụ lục 2b - Hướng dẫn thảo luận nhóm

Phụ lục 2c - Hướng dẫn thảo luận nhóm

Phụ lục 3 - Biến số nghiên cứu

Phụ lục 4 - Các tài liệu rà soát tổng quan mô hình chăm sóc sức khỏe người cao tuổi

Phụ lục 5 - Danh sách các điều tra quần thể về chất lượng cuộc sống được sử dụng tại ở các quốc gia trên thế giới xuất bản giai đoạn 2010 - 2020

Tóm tắt

I. Can thiệp tuổi già khỏe mạnh

Can thiệp tuổi già khỏe mạnh là một chương trình được triển khai tại hai tỉnh Hải DươngHòa Bình nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống và sức khỏe của người cao tuổi. Chương trình này tập trung vào việc tăng cường các hoạt động chăm sóc sức khỏe, nâng cao nhận thức về sức khỏe, và tạo điều kiện để người cao tuổi tham gia tích cực vào các hoạt động cộng đồng. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự cải thiện đáng kể về sức khỏe thể chất và tinh thần của người cao tuổi sau khi tham gia chương trình.

1.1. Mục tiêu can thiệp

Mục tiêu chính của can thiệp tuổi già khỏe mạnh là cải thiện sức khỏe người cao tuổi thông qua các hoạt động chăm sóc sức khỏe và giáo dục sức khỏe. Chương trình cũng nhằm tăng cường sự tham gia của người cao tuổi vào các hoạt động cộng đồng, giúp họ duy trì một cuộc sống năng động và hạnh phúc.

1.2. Phương pháp can thiệp

Chương trình sử dụng phương pháp tiếp cận dựa vào cộng đồng, bao gồm các hoạt động như khám sức khỏe định kỳ, tư vấn dinh dưỡng, và các lớp học về sức khỏe. Can thiệp sức khỏe này cũng bao gồm việc tổ chức các câu lạc bộ sức khỏe để người cao tuổi có thể giao lưu và chia sẻ kinh nghiệm.

II. Kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu từ chương trình can thiệp tuổi già khỏe mạnh tại Hải DươngHòa Bình cho thấy sự cải thiện đáng kể về sức khỏe người cao tuổi. Cụ thể, tỷ lệ người cao tuổi mắc các bệnh mãn tính giảm, và chất lượng cuộc sống của họ được nâng cao. Nghiên cứu sức khỏe cũng chỉ ra rằng các hoạt động can thiệp đã giúp người cao tuổi có thêm kiến thức về chăm sóc sức khỏe và duy trì lối sống lành mạnh.

2.1. Cải thiện sức khỏe thể chất

Sau khi tham gia chương trình, sức khỏe người cao tuổi được cải thiện rõ rệt. Tỷ lệ người cao tuổi mắc các bệnh mãn tính như tiểu đường và huyết áp cao giảm đáng kể. Các hoạt động thể chất được khuyến khích cũng giúp họ duy trì sự dẻo dai và sức khỏe tốt hơn.

2.2. Cải thiện sức khỏe tinh thần

Chương trình cũng mang lại những tác động tích cực đến sức khỏe tinh thần của người cao tuổi. Các hoạt động giao lưu và chia sẻ trong câu lạc bộ sức khỏe giúp họ giảm bớt cảm giác cô đơn và tăng cường sự gắn kết với cộng đồng.

III. Phát triển sức khỏe cộng đồng

Chương trình can thiệp tuổi già khỏe mạnh không chỉ mang lại lợi ích cho người cao tuổi mà còn góp phần vào phát triển sức khỏe cộng đồng. Các hoạt động của chương trình đã tạo ra một môi trường lành mạnh và hỗ trợ lẫn nhau trong cộng đồng. Chăm sóc người cao tuổi được coi là một phần quan trọng trong chiến lược phát triển sức khỏe cộng đồng tại các địa phương.

3.1. Tác động đến cộng đồng

Chương trình đã tạo ra một mạng lưới hỗ trợ mạnh mẽ trong cộng đồng, nơi người cao tuổi có thể nhận được sự giúp đỡ từ các thành viên khác. Phát triển sức khỏe cộng đồng được thúc đẩy thông qua việc tăng cường sự tham gia và trách nhiệm của mọi người trong việc chăm sóc sức khỏe.

3.2. Nhân rộng mô hình

Với những kết quả nghiên cứu tích cực, mô hình can thiệp tuổi già khỏe mạnh có tiềm năng được nhân rộng ra các địa phương khác. Điều này sẽ góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người cao tuổi trên toàn quốc và thúc đẩy phát triển sức khỏe cộng đồng một cách bền vững.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Già hóa dân số là một trong những xu hướng quan trọng nhất của những năm cuối thế kỷ 20 và trong thế kỷ 21. Con người sống lâu hơn nhờ các điều kiện tốt hơn về chế độ dinh dưỡng, vệ sinh, tiến bộ y học, chăm sóc y tế, giáo dục và đời sống kinh tế. Trên thế giới, cứ một giây, có hai người tổ chức sinh nhật tròn 60 tuổi – trung bình một năm có gần 58 triệu người tròn 60 tuổi (1). Già hóa dân số gia tăng nhanh nhất ở các nước đang phát triển, bao gồm cả các nước có đông dân số trẻ.

Giai đoạn 2010 - 2015, tuổi thọ trung bình của các nước phát triển là 78 và của các nước đang phát triển là 68 tuổi. Đến những năm 2045 - 2050, dự kiến tuổi thọ trung bình sẽ tăng lên đến 83 tuổi ở các nước phát triển và 74 tuổi ở các nước đang phát triển (2,3). Hơn 3 thập kỷ vừa qua, Việt Nam đã có những thay đổi lớn về nhân khẩu học. Từ năm 1989 đến 2021, NCT ở Việt Nam không những tăng nhanh về số lượng với 4,6 triệu (năm 1989), 6,2 triệu (1999) và 8,6 triệu (năm 2011), 12,6 triệu người (năm 2021) mà tỷ lệ NCT cũng tăng lên tương ứng, lần lượt là 7,1%, 8,1%, 10% và 12,6% (4) (17).

Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn già hóa dân số từ năm 2011, trở thành một trong những quốc gia có tốc độ già hóa nhanh nhất thế giới. Khi tuổi thọ cao thì gánh nặng bệnh tật cũng rất lớn, đặc biệt là đối với NCT càng dễ mắc bệnh, không những một bệnh mà nhiều bệnh. Điều này dẫn đến nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho NCT ngày càng cao. Người cao tuổi Việt Nam vẫn chưa thực sự khỏe mạnh như mong muốn.

Điều tra về NCT năm 2011 chỉ ra rằng hơn 55% và trên 10% số người đánh giá sức khỏe bản thân là yếu và rất yếu. Nghiên cứu này cũng cho thấy gần 72% NCT gặp ít nhất một loại khó khăn về vận động và 37,6% gặp ít nhất một trở ngại trong sinh hoạt hàng ngày (5). Tỷ lệ mắc các bệnh mạn tính khá cao và thường mắc nhiều bệnh đồng thời, trung bình một người mắc gần 2,7 bệnh (6). Các chính sách chăm sóc NCT ở nước ta trong thời gian qua đã ít nhiều mang tính hệ thống.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy một số chính sách chăm sóc NCT hiện nay vẫn còn hạn chế và bất cập. Một số văn bản chính sách còn chung chung, 2 thiếu tính thực tế. Những chính sách trợ giúp mới chỉ tập trung vào một số chế độ trợ cấp xã hội thường xuyên cho những NCT có hoàn cảnh đặc biệt, khó khăn; một số ưu đãi khác cho NCT còn hạn hẹp, chỉ mới ưu tiên trong khám chữa bệnh, đi lại bằng phương tiện giao thông công cộng, giảm phí tham quan, quà chúc thọ hoặc phí mai táng). Năm 2016, Bộ Y tế ban hành Quyết định số 7618/QĐ-BYT về việc phê duyệt đề án chăm sóc sức khỏe người cao tuổi giai đoạn 2017-2025 (7).

Quyết định nhằm thích ứng với giai đoạn già hóa dân số góp phần thực hiện Chương trình hành động quốc gia về NCT. Một trong những mục tiêu quan trọng của đề án là xây dựng và phổ biến mô hình chăm sóc sức khỏe (CSSK) dài hạn cho NCT. Trên cơ sở này, đề tài cấp Bộ Y tế “Nghiên cứu thực trạng và đánh giá hiệu quả mô hình can thiệp tăng cường chăm sóc sức khỏe người cao tuổi ở một số địa phương của Việt Nam” do nghiên cứu sinh làm chủ nhiệm đã được xây dựng và triển khai. Đề tài đã được phê duyệt hoàn thành vào năm 2021.

Địa bàn nghiên cứu được lựa chọn là tỉnh Hải Dương và tỉnh Hoà Bình. Tỉnh Hải Dương là một trong 10 tỉnh có chỉ số già hoá cao nhất toàn quốc với tỷ lệ NCT khá cao (13,5%) với tuổi thọ trung bình tăng từ 71,9 tuổi năm 1999 lên 74,5 tuổi năm 2014 (8). Còn ở tỉnh Hòa Bình, tỷ lệ NCT thấp hơn trung bình cả nước (8,9%) (8). Dựa vào đề tài cấp Bộ này, nghiên cứu sinh đã sử dụng một số kết quả để xây dựng và hoàn thiện luận án “Kết quả can thiệp tuổi già khỏe mạnh tại tỉnh Hải Dương và Hòa Bình giai đoạn 2018 - 2021”.

Luận án này thực hiện thêm các phân tích thống kê chuyên sâu cũng như phân tích bổ sung thêm những kết quả từ đề tài cấp Bộ để trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau: Trước can thiệp, thực trạng sức khỏe và chất lượng cuộc sống (CLCS) của NCT tại địa bàn nghiên cứu như thế nào? Can thiệp “Tuổi già khỏe mạnh” tại tỉnh Hải Dương và tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2018 - 2021 đã làm thay đổi thay đổi CLCS của NCT ra sao? Mức độ phù hợp của can thiệp “Tuổi già khỏe mạnh” giai đoạn 2018 - 2021 tại 2 tỉnh Hải Dương và tỉnh Hòa Bình như thế nào?. Điểm mới của đề tài là xây dựng và đánh giá hiệu quả của mô hình can thiệp “Tuổi già khỏe mạnh” thông qua đánh giá thay đổi chất lượng cuộc sống, đặc biệt là thay đổi về khía cạnh sức khỏe tinh thần, với cách tổ chức các hoạt động dựa trên vào cộng đồng, có sự tham 3 gia của NCT - nhóm đối tượng trung tâm của mô hình – trong tự tổ chức, tham gia và duy trì các hoạt động với hình thức đa dạng và phù hợp với bối cảnh và địa bàn can thiệp. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng sức khỏe và chất lượng cuộc sống người cao tuổi tại thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương và huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình năm 2018.

Đánh giá sự thay đổi chất lượng cuộc sống của người cao tuổi thông qua can thiệp “Tuổi già khỏe mạnh” tại tỉnh Hải Dương và tỉnh Hòa Bình. Phân tích mức độ phù hợp của can thiệp “Tuổi già khỏe mạnh” tại tỉnh Hải Dương và tỉnh Hòa Bình. 4 Chương 1 TỔNG QUAN 1. Một số khái niệm Người cao tuổi (NCT): Khái niệm người cao tuổi giữa nước ta và thế giới khác nhau, như Quỹ Dân số Liên hợp quốc định nghĩa người cao tuổi là những người từ 65 tuổi trở lên.

Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng khái niệm người cao tuổi theo Luật Người cao tuổi năm 2009 là từ 60 tuổi trở lên, tính cả đối với nam và nữ (Điều 2, Luật NCT Việt Nam) (9). Già hoá dân số hay còn gọi là giai đoạn “dân số đang già” là khi tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên chiếm từ 7% tổng dân số trở lên; hoặc khi tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên chiếm từ 10% tổng dân số trở lên. Giai đoạn “dân số già” còn gọi là giai đoạn “dân số đã già” là khi dân số từ 65 tuổi trở lên chiếm từ 14% tổng dân số trở lên. Đây là một quá trình diễn ra khi tỷ lệ người lớn và NCT tăng lên, còn tỷ lệ trẻ em và vị thành niên giảm đi, cũng là lúc mức sinh giảm xuống và tuổi thọ trung bình không thay đổi hoặc tăng lên (10).

Cơ cấu dân số vàng là cứ có 2 người trong độ tuổi lao động thì có 1 người trong độ tuổi phụ thuộc (10). Tại Việt Nam, độ tuổi lao động là từ 15 đến 59 tuổi, độ tuổi phụ thuộc trẻ là dưới 15 tuổi, độ tuổi phụ thuộc già là từ trên 60 tuổi. Tuổi già khỏe mạnh là một quá trình phát triển và duy trì khả năng thực hiện các chức năng để tạo nên cuộc sống thoải mái trong giai đoạn tuổi già. Già hóa tích cực là một quá trình tối đa hóa các cơ hội liên quan đến y tế, sự tham gia và đảm bảo an sinh từ đó tăng cường chất lượng cuộc sống cho NCT (10).

Chất lượng cuộc sống: Theo WHO, chất lượng cuộc sống (CLCS) là “Quan niệm của cá nhân về vị trí xã hội của họ trong bối cảnh văn hóa và hệ thống giá trị mà họ sống; và trong mối quan hệ với các mục tiêu, kỳ vọng, chuẩn mực và những mối quan tâm của họ” (11). Chất lượng cuộc sống của người cao tuổi là sự hiểu biết của cá nhân về vị trí xã hội của họ trong bối cảnh văn hóa và hệ thống các giá trị, và trong mối quan hệ với các mục tiêu, kỳ vọng, chuẩn mực và mối quan tâm của họ (11). 5 Năng lực cung cấp dịch vụ sức khỏe cho người cao tuổi tại cơ sở y tế tuyến cơ sở được đánh giá dựa vào sự sẵn có và sẵn sàng đáp ứng các yếu tố như: i) nhân lực, ii) thuốc, trang thiết bị và kỹ thuật; iii) hoạt động/dịch vụ; iv) thông tin, báo cáo; và vi) tài chính. Yếu tố chính sách, quản lý và điều hành cũng ảnh hưởng đến những năng lực này (12).

Mức độ phù hợp: Một can thiệp khi triển khai cần phải phù hợp với nhu cầu, ở cả phía đối tượng đích (giải quyết các vấn đề của đối tượng đích) và cũng phải phù hợp với các đặc thù của chủ đề nghiên cứu (13). Tính phù hợp có ý nghĩa quan trọng trong thiết kế nghiên cứu, lập kế hoạch hoạt động của can thiệp và cả tổng chi phí của can thiệp. Mức độ phù hợp là đánh giá về sự phù hợp của can thiệp ở một địa bàn cụ thể hoặc cho một đối tượng đích cụ thể (ví dụ: người cung cấp dịch vụ y tế hoặc khách hàng) hoặc vấn đề cụ thể (13). Thực trạng sức khỏe người cao tuổi trên thế giới và tại Việt Nam 1.

Khái quát sức khỏe của người cao tuổi Khi tuổi cao, đồng nghĩa với việc sức khỏe giảm sút và mắc các bệnh người già. Các bệnh thường gặp ở NCT bao gồm mất thính giác, đục thủy tinh thể và các tật khúc xạ, đau lưng và cổ, viêm khớp mãn tính, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, tiểu đường, trầm cảm và chứng sa sút trí tuệ. Người cao tuổi gặp phải một số vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản như ảnh hưởng của mãn kinh, ung thư sinh dục, sa sinh dục v.v… Đáng lưu ý là, NCT cùng lúc có thể mắc nhiều chứng bệnh khác nhau. Hơn nữa, NCT còn phải chịu nhiều bệnh do lão hóa gây ra (14).

Khi tuổi càng cao, NCT gặp nhiều tình trạng sức khoẻ phức tạp, không thuộc bất cứ một phân loại bệnh cụ thể nào, gọi là hội chứng lão khoa như suy giảm sức khỏe, tiểu không tự chủ, ngã, mê sảng và viêm loét do tỳ đè. Hội chứng lão khoa là một chỉ báo thường được sử dụng cho tình trạng sức khỏe và tử vong của NCT chứ không chỉ là loại hoặc số lượng bệnh cụ thể hiện mắc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ "Kết Quả Can Thiệp Tuổi Già Khỏe Mạnh Tại Hải Dương Và Hòa Bình" tập trung nghiên cứu các biện pháp can thiệp nhằm cải thiện sức khỏe và chất lượng cuộc sống cho người cao tuổi tại hai tỉnh Hải Dương và Hòa Bình. Nghiên cứu này không chỉ đưa ra các giải pháp cụ thể dựa trên thực tiễn địa phương mà còn góp phần vào việc xây dựng chính sách y tế công cộng hiệu quả. Đây là tài liệu hữu ích cho các nhà nghiên cứu, nhà hoạch định chính sách và những ai quan tâm đến lĩnh vực chăm sóc sức khỏe người cao tuổi.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu liên quan đến chính sách xã hội và y tế, bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ quản lý nhà nước trong quá trình thu hồi đất nông nghiệp ở Hà Nội, Luận án tiến sĩ thực hiện chính sách giáo dục pháp luật cho thanh niên tại huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam, và Luận án tiến sĩ văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương. Những tài liệu này sẽ cung cấp thêm góc nhìn đa chiều về các vấn đề xã hội và chính sách công.