Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán quản trị Chương 2: Phân tích sự biến động chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Chương 3: Phân tích điểm hoà vốn và lựa chọn phương án kinh doanh Sinh viên thực hiện Hoàng Thị Trang 6 Phần I Cơ sở lý luận chung về kế toán quản trị 1.1- Những vấn đề cơ bản về kế toán quản trị 1. Khái niệm kế toán quản trị Nếu như ở một số quốc gia như Canada, Mỹ, kế toán quản trị đã trở thành một nghề với những tiêu chuẩn nghề nghiệp xác định (CMA), thì ở Việt Nam, thuật ngữ “Kế toán quản trị” mới chỉ được ghi nhận chính thức trong Luật Kế toán ban hành vào ngày 17/06/2003. Theo đó, kế toán quản trị được hiểu là “việc thu thập, xử lý và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”. Kế toán quản trị là một bộ phận trong hệ thống thông tin của một tổ chức.
Các nhà quản lý dựa vào thông tin kế toán quản trị để hoạch định và kiểm soát hoạt động của tổ chức (Hilton, 1991). Nói tóm lại, kế toán quản trị là một lĩnh vực kế toán được thiết kế để thoả mãn nhu cầu thông tin của các nhà quản lý và các cá nhân khác làm việc trong một tổ chức (Edmonds et al, 2003) Kế toán quản trị là quy trình định dạng, đo lường, tổng hợp phân tích lập báo biểu, giải thích các số liệu tài chính và phi tài chính cho ban giám đốc để lập kế hoạch đánh giá, theo dõi việc thực hiện kế hoạch trong phạm vi nội bộ doanh nghiệp để bảo quản, sử dụng có hiệu quả tài sản của doanh nghiệp. Kế toán quản trị là một bộ phận của hạch toán kế toán thực hiện công việc xử lý và cung cấp thông tin về việc hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp một cách cụ thể dưới dạng các báo cáo chi tiết, phục vụ cho nhà quản lý trong việc điều hành tổ chức lập kế hoạch quản lý hoạt động kinh tế tài chính trong nội bộ doanh nghiệp. 7 Hay kế toán quản trị còn là tập hợp của một nhóm người, liên kế với nhau để hành động, nhằm đạt tới một mục đích đúng đắn nhất và lợi nhuận cao nhất.
Vai trò, nhiệm vụ, chức năng của kế toán quản trị 1.1Vai trò: a) Vai trò của kế toán quản trị: Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các tổ chức dù hoạt động với mục đích gì thì đều cần thông tin kế toán quản trị để tồn tại và phát triển. Tổ chức vì mục đích lợi nhuận cần thông tin kế toán quản trị đẻ xác định lợi nhuận trong một lỳ hoạt động. Tổ chức không vì mục đích lợi nhuận cần thông tin kế toán quản trị để xác định mức độ phục vụ hội viên trong cộng đồng. Tổ chức nhà nước cần thông tin kế toán quản trị để đánh giá mức độ cung cấp các dịch vụ về an ninh và phục vụ xa hội của một tổ chức, có ảnh hưởng tới mức độ hoạt động của một tổ chức, có ảnh hưởng tới mức độ đạt được của các mục tiêu đã đề ra.
b) Vai trò của kế toán quản trị trong chức năng quản lý danh nghiệp. Để điều hành các mặ hoạt động của một doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp mỏ nói riêng, trách nhiệm thuộc về các nhà quản trị các cấp trong doanh nghiệp đó. Các chức năng cơ bản của quản lý hoạt động doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra có thể được khái quát trong sơ đồ sau đây: Lập kế hoạch Đánh giá Ra quyết định Thực hiện Kiểm tra 8 Hình 2.1: Các chức năng cơ bản của quản lý Qua sơ đồ trên ta thấy sự liên tục của hoạt đọng quản lý từ khâu lập kế hoạch đến thực hiện, kiểm tra, đánh giá rồi sau đó quay trở lại khâu lập kế hoạch đến thực hiện, kiểm tra, đanh giá rồi sau đó quay trở lại khâu kế hoạch cho kỳ sau, tất cả đều xoay quanh trục ra quyết định. Để lầm tốt các chức năng này đòi hỏi các nhà quản trị phải đề ra những quyết định đúng đắn nhất cho các hoạt động của doanh nghiệp.
Muốn có những quyết định có hiệu quả và hiệu lực, các nhà quản trị có yêu cầu về thông tin rất lớn. KTQT là nguồn chủ yếu, dù không phải là duy nhất, cung cấp nhu cầu thông tin đó. Để thấy rõ vai trò của KTQT đối với các chức năng quản lý ta xét vị trí của nó trong từng khâu của quá trình quản lý. 1)Khâu lập kế hoạch và dự án Lập kế hoạch là xây dựng các mục tiêu cần phải đạt được và vạch ra các bước thực hiện để đạt được các mục tiêu đó.
Các kê hoạch này dài hạn hay ngắn hạn. Dự toán là một dạng của kế hoạch, nó là sự liên kết các mục tiêu lại với nhau và chỉ rõ cách huy động và sử dụng các nguồn lực sẵn có để đạt được các mục tiêu đã đề ra. Để chức năng lập kế hoạch và dự toán của quản lý được thực hiện tốt, để các kế hoạch cùng các dự toán có tính khoa học và tinh khả thi cao thì chung phải được lập dựa trên những thông tin hợp lý và có cơ sở. Các thông tin này chủ yếu do KTQT cung cấp.
Ví dụ: Khi xây dựng chỉ tiêu lợi nhuận, doanh nghiệp phải xác định cách làm cụ thể để đạt được chỉ tiêu này. Kế toán viên quản trị sẽ cung cấp cho các nhà quản trị số liệu có cơ sở để giúp các nhà quản trị lựa chọn ra phương án tối ưu để đạt được giá bán hiệu quả nhất trong điều kiện cạnh tranh thị trường v.v 2) Khâu tổ chức thực hiện 9 Trong khâu tổ chức thực hiện, nhà quản lý biết các liên kết tốt nhất các yêu tố của sản xuất. Có nghĩa là kết hợp tốt nhất các nguồn lực để đạt được mục tiêu đã đề ra. Để thực hiện tốt chức năng này, nhà quản trị có như cầu rất lớn về thông tin kế toán, nhất là thông tin kế toán quản trị.
Để ra quyết định kinh doanh đúng đắn trong các hoạt động hàng ngày (quyết định ngắn hạn), hay quyết định thực hiện các mục tiêu dài hạn, nhà quản trị đều cần phải được cung cấp thông tin từ kế toán. 3)Khâu kiểm tra và đánh giá: Sau khi đã lập kế hoạch đây đủ và hợp lý, tổ chức thực hiện kế hoạch đòi hỏi nhà quản trị phải kiểm tra và đánh giá việc thực hiện nó. Phương pháp thường dùng là so sánh số liệu kế hoạch hoặc dự toán với số liệu thực hiện, để từ đó nhận diện các sai biệt giữa kết quả đạt được và mục tiêu đề ra. Để làm được điều này, nhà quản trị cần được cung cấp từ bộ phận kế toán báo cáo thực hiện để nhận diện những vấn đề còn tồn tại và cần có tác động quản lý.
Kiểm tra và đánh giá là hai chức năng có liên quan chặt chẽ với nhau. Các nhà quản tri thừa hành thường đánh giá từng phần trong phạm vi kiểm soát của họ. Còn các nhà quản trị cấp cao hơn, không tham gia trực tiếp vào quá trình hoạt động hàng ngày, tiến hành đánh giá dựa vào các báo cáo thực hiện của từng bộ phận thừa hành mà kế toán quản trị cung cấp 4) Khâu ra quyết định Phần lớn thông tin KTQT cung cấp nhằm phục vụ cho chức năng ra quyết định của nhà quản trị doanh nghiệp, từ khâu lập kế hoạch, tổ chức thực hiện đến kiểm tra đánh giá. Chức năng ra quyết định được vận dụng liên tục trong suất qua trình hoạt động của doanh nghiệp.
10 Để có thông tin thích hợp cho các nhu cầu của quản lý, KTQT sẽ thực hiện các nghiệp vụ phân tích chuyên môn vì những thông tin này thường không có sẵn. KTQT sẽ chọn lọc những thông tin cần thiết, thích hợp rồi tổng hợp, trình bày chúng theo một trình tự dễ hiểu nhất và giải thích quá trinhg phân tích đó cho nhà quản trị. KTQT giúp các nhà quản trị trong quá trình ra quyết định không chỉ bằng cách cung cấp thông tin thích hợp, mà còn cánh vận dụng các kỹ thuật phân tích vào những tình huống khác nhau, để từ đó nhà quản trị lựa chọn ra quyết định một cách thích hợp nhất.Nhiệm vụ của kế toán quản trị KTQT cung cấp thông tin thỏa mãn nhu cầu cho các nhà QTDN, là những người mà quyết định và hành động của họ quyết đinh sự thành công hay thất bại của DN đó. Thông tin không đầy đủ, các nhà quản trị sẽ gặp khó khăn trong việc quản lý hiệu quả của DN.
Nhưng nếu thông tin không chính xác, các nhà quản trị sẽ đề ra các quyết định kinh doanh sai lầm ảnh hưởng tới quá trình sinh lời của doanh nghiệp. - Kế toán quản trị phản ánh đối tượng của kế toán nói chung dưới dạng chi tiết theo yêu cầu của nhà quản trị doanh nghiệp. - Kế toán quản trị phản ánh, tính toán giá chi phí của từng loại TSCĐ, TLLĐ,phản ánh chi tiết từng khoản đối với từng khoản nợ phải trả, từ đó phản ánh( nguồn vốn chủ sở hữu của DN) dưới dạng chi tiết nhất. - Kế toán quản trị tính toán xác định theo từng địa điểm phát sinh (từng trung tâm chi phí), cũng như theo từng đối tượng gánh chị chi phí( từng loại sản phẩm, hàng hóa,lao vụ.) từ đó nhà quản trị có thể xác định kết quả hoạt động kinh doanh một cách chi tiết nhất theo yêu cầu của nhà quản trị.
11 - Kế toán quản trị dựa trên cách thức huy động và sử dụng nguồn lực vì vậy nó gắn liền với công tác tổ chức và công nghệ của doanh nghiệp. KTQT xác định, mô tả hoạt động của các bộ phận tiêu dùng nguồn lực, các bộ phận cung cấp hoạt động và sản phẩm của việc tiêu dung nguồn lực. Chức năng: Thông tin trong doanh nghiệp phải nhằm phục vụ mục tiêu của DN. Thông tin của KTQT chủ yếu nhằm phục vụ cho quá trình ra quyết định của nhà quản trị.
Do thông tin này không có sẵn do vậy KTQT phải vận dụng một số phương pháp nghiệp vụ để xử lý chúng thành dạng phù hợp với nhu cầu của nhà quản trị. Chức năng chính của KTQT là cơ sở để ra quyết định hay chính là quy trình điều hành kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.