mở đầu của công ty; lập công 1 thức tính toán, đánh giá và lựa chọn các chiến lược tiếp thị phù hợp đến thị trường, tất cả đều nhằm một mục đích chung là tạo ra lợi nhuận cho công ty. Vai Vai trò của marketing Theo quá trình phát triển kinh tế xã hội, các doanh nghiệp ngày càng nhận thức cao về vai trò của marketing trong kinh doanh. Vai trò của marketing có thể khái quát như sau: Thứ nhất, marketing hướng dẫn các DN nghệ thuật phát hiện nhu cầu khách hàng cũng như nghệ thuật làm hài lòng khách hàng, marketing định hướng cho hoạt động kinh doanh và tạo thế chủ động cho doanh nghiệp. Thứ hai, marketing là cầu nối giúp DN và khách hàng có thể hiểu nhau hơn, dung hòa được lợi ích giữa DN với NTD và xã hội.
Thứ ba, marketing là một công cụ cạnh tranh giúp doanh nghiệp tạo được chỗ đứng cho mình trên thị trường. Thứ 4, marketing marketing là kim chỉ nam cho tất cả các hoạt động cũng như các phòng ban trong doanh nghiệp. Các quyết định trong doanh nghiệp đề phần lớn phụ thuộc vào marketing marketing như: Sản xuất cái gì? Bán cho thị trường nào? Sản xuất như thế nào? Số lượng bao nhiêu? 1. Chức năng của marketing Nếu nói hoạt động sản xuất là tạo ra sản phẩm thì hoạt động marketing tạo ra khách hàng và thị trường.
Vai trò này xuất phát từ những chức năng đặc thù của marketing. Những chức năng đó là: - Nghiên cứ cứu thị trường và phát hiện nhu cầu - Thíc hích ứng/ đáp ứng nhu ccầầu thư hườn ờngg xuyên yên thay hay đổi đổi - Thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao - Hiệu quả kinh tế - Phối hợp 2 1. Tổng Tổng quan quan về tr truy uyền ền thôn thôngg 1. Khái niệm truyền thông Truyền thông, về bản chất là quá trình chia sẻ, trao đổi hai chiều, diễn ra liên tục giữa chủ thể truyền thông và đối tượng truyền thông.
Quá trình chia sẻ, trao đổi hai chiều ấy có thể được hình dung qua nguyên tắc bình thông nhau. Khi có sự chênh lệch trong nhận thức, hiểu biết… giữa chủ thể và đối tượng truyền thông gắn với nhu cầu chia sẻ, trao đổi thì hoạt động truyền thông diễn ra. Truyền thông đòi hỏi phải có người gửi, thông điệp, phương tiện truyển tải và người nhận, mặc dù người nhận không cần phải có mặt hoặc nhận thức về ý định của người gửi để giao tiếp tại thời điểm việc truyền thông này diễn ra; do đó thông tin liên lạc có thể xảy ra trên những khoảng cách lớn trong thời gian và không gian. Truyền thông yêu cầu các bên giao tiếp chia sẻ một khu vực dành riêng cho thông tin được truyền tải.
Quá trình giao tiếp được coi là hoàn thành khi đã đạt được sự cân bằng trong nhận thức, hiểu biết giữa chủ thể và đối tượng truyền thông và người nhận hiểu thông điệp của người gửi. Vai Vai trò của truyền thông Truyền thông marketing được định nghĩa như là: sự phối hợp các nỗ lực nhằm thiết lập kênh truyền thông và thuyết phục KH để bán SP dịch vụ hay cổ động cho các ý tưởng. Các công cụ cơ bản được sử dụng để đạt được các mục tiêu truyền thông của tổ chức được gọi là phối thức chiêu thị/truyền thông (promotional-mix), đó là quảng cáo, khuyến mại, marketing trực tiếp, PR và chào hàng cá nhân. 1: Các yếu tố phối thức chiêu thị Một chương trình truyền thông tổng hợp I.C thành công đòi hỏi doanh nghiệp biết các kết hợp đúng đán các kỹ thuật và công cụ truyền thông, xác định rõ vai trò và sự mở rộng các yếu tố này trong việc phối hợp; sử dụng chúng.
Để đạt được điều này, người chịu trách nhiệm về hoạt động truyền thông của các công ty phải hiểu rõ vai trò của truyền thông marketing trong một kế hoạt chung marketing. Vai trò của truyền thông marketing thể hiện như sau: • Là công cụ thực hiện chức năng truyền thông, đáp ứng nhu cầu KH • Phối hợp với các công cụ khác trong marketing – mix để đạt mục tiêu marketing • Là công cụ canh tranh trong kinh doanh: gia tăng giá trị SP, thông tin, xây dựng nhận thức về SP, nâng cao uy tín nhãn hiệu, duy trì niềm tin, thái dộ tốt đẹp ở công chúng về công ty,. • Thông tin về lợi thế SP • Thiết lập sự nhận thức và thái độ thuận lợi đối với SP, công ty • Tạo sự yêu thích nhãn hiệu • Tăng số lượng bán hiện tại • Củng cố hoạt động phân phối tại các điểm bán lẻ • Đạt sự hợp tác từ các trung gian và lực lượng bán hàng • Động viên lực lượng bán hàng 4 • Xây dựng hình ảnh tốt về công ty Chiêu thị không thể: • Thuyết phục NTD mua SP không phù hợp với nhu cầu • Làm cho KH mua SP với mức giá gi á cao hơn • Thuyết phục KH tìm mua SP trong khi nó phân phối hạn chế Chức năng của truyền thông: • Truyền thông: thông tin, thuyết phục, nhắc nhở • Kích thích tiêu thụ, gia tăng giá trị • Thiết lập quan hệ, liên kết 1. Chiến lược truyền thông – Phối thức truyền thông 1.
Khái niệm chiến lược truyền thông Theo Philip Kotler (2005), “truyền thông marke marketing ting (marketing (marketing communication) communication) là các hoạt động truyền thông tin một cách gián tiếp hay trực tiếp về SP và bản thân DN tới KH nhằm thuyết phục họ tin tưởng vào DN cũng như SP, và mua SP của DN”. Ở một phương diện khác, chiến lược truyền thông marketing còn là một quá trình phát triển và duy trì một phối thức truyền thông sử dụng các nguồn lực của công ty ở mức tối đa để thu hút các thị trường tiềm năng đóng góp cho các mục đích tiếp thị ngắn hạn hay dài hạn của công ty và mục đích của tổ chức. Ngô Thị thu (2011) trích trích dẫn khái niệm của Hiệp hội các đại lý quảng cáo Mỹ 4As về định nghĩa về truyền thông marketing tổng hợp (I.C là khái niệm về sự hoạt định truyền thông marketing nhằm xác định giá trị gia tăng của một kế hoạch tổng hợp, đánh giá vai trò chiến lược của các thành phần khác nhau trong truyền thông như: quảng cáo, khuyến mại, tuyên truyền và sự kết hợp các thành phần này để tạo ra một sự truyền thông rõ ràng, đều đặn hiệu quả tối đa.” Quan điểm của 4As tập trung vào quá trình sử dụng các hình thức chiêu thị để đạt tác động truyền thông tối đa. Mô hình truyền thông 1.
Mô hình truyền thông Hoạt động chiêu thị thực hiện chức năng truyền thông, do đó để thực hiện hoạt động truyền thông hiệu quả cầ hiểu rõ quá trình truyền thông và các yếu tố cơ bản trong quá trình đó. 2: Mô hình truyền thông Mô hình này bao gồm 9 yếu tố của quá trình truyền thông: Người gửi/ Nguồn phát (Sender): là ca nhân hay tổ chức có thông tin muốn chia sẻ, phân phát thông tin của mình tới một các nhân hay nhiều người khác. Nguồn phát có thể là một cá nhân (nhân viên chào hàng, phát ngôn viên, người nổi tiếng xuất hiện trong mẫu quảng cáo của công ty), hay có thể là một tổ chức. Mã hóa (Encoding): mã hóa là chọn lựa những từ ngữ, biểu tượng, hình ảnh.
để trình bày thông điệp, tượng trưng hóa các ý tưởng hay thông tin. Người gửi phải mã hóa thông tin muốn gửi sao cho đối tượng nhận sẽ hiểu được thông điệp dễ dàng. Thông điệp (Message): quá trình mã hóa tạo ra thông điệp chứa đựng thông tin có ý nghĩa mà nguồn phát muốn chuyển tải. Thông điệp này có thể được diễn tả băng lời hoặc lằng hình ảnh, chữ viết, hay có thể là biểu tượng.
Phương tiện (Media): là kênh truyền thông qua đó thông ddieenpj được truyền đi từ nguồn phát hay người gửi đến đối tượng nhận. Có 2 loại kênh truyền thông là trực tiếp và gián tiếp. 6 Người nhận (Reciever): là người mà người gửi muốn chia sẻ, phân phát thông tin tới. Giảii mã (De Giả (Decoding):: là quá trình chuyển thông điệp được mã hóa của người gửi coding) thành ý nghĩa.
Quá trình này là ảnh hưởng mạnh bởi kinh nghiệm, nhận thức, thái độ của người nhận. Nhiễu (Noise): trong suốt quá trình truyền thông, thông điệp còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố không mong đợi, nó còn có thể bóp méo thông điệp hay cản trở đối tượng nhận thông điệp. Những méo mó hay cản trở này được gọi là nhiễu. Đáp ứng (Pesponse): đáp ứng là tập hợp những phản ứng của người nhận sau khi thấy,, nghe hoặc đọc thông điệp.
thấy Phản hồi (Feedback): Là một phần đáp ứng của người nhận sau khi thấy, nghe hoặc đọc thông điệp được thông tin trở lại cho người gửi. Qua mô hình truyền thông, khi lập kế hoạch chiêu thị các nhà marketing cần phải xác định rõ đối tượng truyền thông là ai, họ có nhận thông điệp không, phương tiện lựa chọn chính xác chưa, họ tiếp nhận và giải mã thông điệp như thế nào, cần thoe dõi phản hồi của đối tượng để đánh giá kết quả truyền thông. Các bước phá phátt triể triểnn kế kế hoạch ạch tru truyyền tthhông Để phát triển có hiệu quả một chương trình truyền thông marketing đòi hỏi xem xét các bước sau: - Xác định đối tượng mục tiêu Quá trình truyền thông khởi đầu bằng việc xác định rõ ràng đối tượng mục tiêu, họ có thể là KH tiềm năng hoặc KH hiện tại, họ có thể là người ra quyết định mua hoặc chỉ là người ảnh hưởng. Đối tượng mục tiêu có thể là một cá nhân, một nhóm, một tổ chức hoặc nhóm công chúng nào đó.
Việc xác định đối tượng mục tiêu ảnh hưởng mạnh đến các quyết định như: thông điệp sẽ nói là gì? Nói khi nào? Ở đâu? Ai sẽ nói? 7 - Xác định mục tiêu truyền thông Sau khi xác định đối tượng mục tiêu, bước kế tiếp chúng ta cần phải làm là xác định mục tiêu truyền thông – chính là xác định những phản ứng mà ta muốn có ở đối tượng. Mục tiêu truyền thông thường gắn với mục tiêu marketing marketing và mục tiêu cuối cùng thường gắn với mục tiêu mua hàng. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp việc mua hàng là kết quả của một quá trình dài trong việc ra quyết định của NTD. Khi truyền thông ta cần biết chính xác NTD đang ở vị trí nào trong quá trình sẵn sàng mua của họ.
3: Các giai đoạn sẵn sàng của người mua Thông thường NTD có thể rơi vào bất cứ giai đoạn nào trong 6 giai đoạn của quá trình sẵn sàng của người mua. Ở các giai đoạnkhác nhau, người truyền thông sẽ đặt ra các mục tiêu truyền thông thích hợp.