CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Quan niệm về tự học 1. Quan niệm cổ đại của các nền văn minh về tự học Tìm hiểu trong lịch sử giáo dục của nhân loại về vấn đề tự học và hoạt động tự học, có thể thấy rằng: vấn đề tự học được quan tâm từ rất sớm, ngay cả khi giáo dục còn chưa được coi là một môn khoa học thực sự. Ở những thời kì đó, người ta chỉ quan tâm cách học sao cho người học chăm chỉ, có thể ghi nhớ hết lời dạy của thầy và thực hiện theo những lời dạy đó.
Cùng một vấn đề tự học, ở các nước phương Đông và các nước phương Tây lại có những quan điểm khác nhau nhưng cùng nêu lên một nội dung chính: tự học chính là con đường mà người học đều phải tự tìm tòi, khám phá tri thức, tự thực hiện các hoạt động của mình. Từ thế kỉ XVII, các nhà giáo dục cổ đại như Xô Cơ Rát (469- 339 TCN), J. Brousseau (1712-1778), Usinxki (1824- 1870),…cũng đã rất coi trọng đến sự phát triển tính tích cực, chủ động, độc lập, sáng tạo của người học và nhấn mạnh người học phải tự tìm tòi, khám phá trong quá trình học. Còn đối với các nước Phương Đông thì vấn đề tự học cũng đã được chú ý từ thời Khổng Tử và Mạnh Tử, đặc biệt là Khổng Tử.
Trong suốt quá trình dạy học trò, ông luôn coi trọng sự chủ động tìm tòi và sáng tạo. Cách dạy của ông luôn mang tính gợi mở để người học có thể dễ dàng tìm ra được chân lý mới. Khổng Tử luôn nhắc nhở học trò của mình: “Không giận vì không muốn biết thì không gợi mở cho, không bực vì không rõ thì không bày vẽ cho, một vật có 4 góc, bảo cho biết một góc mà không suy ra 3 góc kia thì không dạy nữa” (luận 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Còn đối với Mạnh Tử, ông ví người dạy học như người bắn cung, chỉ kéo thẳng dây cung mà không bắn tên đi hộ, tự người học phải bắn lấy.
Vào đầu thế kỉ XX, thì việc dạy học lấy người học là trung tâm lại càng được quan tâm và coi trọng. Đã có rất nhiều nhà khoa học đã có nhiều công trình nghiên cứu mang giá trị thực tiễn cao về vấn đề tự học. Nhiều nhà giáo dục học trên thế giới đã đề cao quan điểm phải xây dựng tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, thầy chỉ là người cố vấn, định hướng, dẫn dắt. Quan niệm về tự học hiện nay Ở Việt Nam, việc tự học cũng biết đến từ rất sớm.
Từ thời xã hội phong kiến, giáo dục gắn liền với hình ảnh thầy đồ, thầy dạy gì, trò đọc theo thế, làm theo thế nhưng cũng xuất hiện rất nhiều người tài giỏi xuất chúng như Nguyễn Hiền, Nguyễn Trãi, Mạc Đĩnh Chi,.do khả năng học một biết mười của mình. Những nhân tài ấy ngoài việc thầy dạy còn trên lớp, còn tự học ở nhà, đó là hình ảnh bắt đom đóm cho vào vỏ trứng để học của Nguyễn Hiền, hình ảnh Mạc Đĩnh Chi đốt củi, hết củi thì lấy lá rừng đốt lên để tự học,…Việc chủ động tìm tòi kiến thức, vận dụng linh hoạt là điểm then chốt làm lên thành công của các trạng nguyên thời đó. Tuy nhiên, giáo dục theo quan điểm “thầy dạy là trung tâm” vẫn được duy trì, thầy đồ sẽ là người đưa ra kiến thức, học trò chỉ làm theo, học theo, thực hiện theo hoạt động của thầy. Vấn đề tự học chỉ thực sự quan trọng, được nghiên cứu nghiêm túc, tuyên truyền rộng rãi khi nền cách mạng cộng sản ra đời.
Và người thực hiện đầu tiên chính là chủ tịch Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng, đồng thời là nhà lý luận về giáo dục, về tự học. Trong quan niệm về tự học, Người định nghĩa “tự học” bằng một câu ngắn gọn, súc tích nhưng đầy tính tư tưởng: “Tự học là “tự động học tập” [1]. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn cho rằng, còn sống còn phải học.
Đây là biện pháp tốt nhất để nâng cao trình độ hiểu biết, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ cách mạng. “Nếu không chịu khó học thì không tiến bộ được. Không tiến bộ là thoái bộ. Xã hội càng đi tới, công 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com việc càng nhiều, máy móc càng tinh xảo.
Mình mà không chịu khó học thì lạc hậu, mà lạc hậu thì bị đào thải, tự mình đào thải mình [2]. Những lời dạy chỉ bảo của Người đã trở thành triết lý nhân văn sâu sắc, có ý nghĩa giáo dục to lớn đối với sự nghiệp giáo dục - đào tạo của dân tộc ta đến nay. Những năm đầu của thế kỉ XX, hoạt động tự học, phát triển tư duy, tính tích cực của học sinh được nhiều nhà giáo dục học nghiên cứu như: Nguyễn Cảnh Toàn (1995), Trần Kiều, Nguyễn Bá Kim, Thái Duy Tiên,…Đặc biệt, GS.TSKH Nguyễn Cảnh Toàn đã nhấn mạnh việc tự học, tự rèn luyện của học sinh. Một người thầy giỏi là người hướng dẫn cho học sinh tự học, tự nghiên cứu.
Hiện nay, việc tự học nói chung và việc tự học nói riêng của học sinh ngày càng được quan tâm và chú ý đến, phương pháp dạy học đang dần dần chuyển đổi từ việc học thầy là trung tâm sang người học là trung tâm. Người thầy chỉ đóng vai trò dẫn lối, chỉ bảo con đường chiếm lĩnh tri thức cho học sinh. Lý luận về tự học 1. Một số quan điểm về tự học Tự học là một việc cực kì quan trọng và cần thiết trong quá trình tiếp nhận tri thức, là hoạt động có mục đích của con người.
Tự học là cách tốt nhất để hoàn thiện tri thức và nhân cách của mỗi người. Nhắc đến việc tự học, không thể không kể đến chủ tịch Hồ Chí Minh, tự học có vai trò quan trọng và là một trong những yếu tố hình thành lên trí tuệ của Người. Về cách học phải “lấy tự học làm cốt” [1] là một luận điểm quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục. Tại sao lại là “lấy tự học làm cốt”? Người chỉ rõ:“Lấy tự học làm cốt.
Do thảo luận và chỉ đạo giúp vào” tức là thực hiện kết hợp 3 khâu: Tự học của cá nhân phải làm nòng cốt, thảo luận của tập thể và hướng dẫn của giảng viên chỉ để bổ sung thêm vào. Có thể nói, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương mẫu mực về tinh thần tự học, lấy tự học là chính để trau dồi, nâng cao kinh 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghiệm của bản nhân. Người là tấm gương cao sáng về tinh thần tự học và học tập suốt đời để chúng ta noi theo. Về quan điểm tự học, tác giả Nguyễn Kỳ cho rằng: “Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí của người tự nghiên cứu, xử lý các tình huống, giải quyết các vấn đề đặt ra cho mình, nhận biết vấn đề, thu thập xử lý thông tin, tái hiện kiến thức cũ, xây dựng các giải pháp giải quyết vấn đề, xử lý tình huống, thực nghiệm các giải pháp, kết quả, kiến thức mới mình đã tự lực tìm ra, tự học thuộc quá trình cá nhân hóa việc học” [2].
Theo Đặng Vũ Hoạt: “Tự học là một hình thức hoạt động nhận thức của cá nhân nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kĩ năng do chính bản thân người học tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp mà không theo chương trình và sách giáo khoa đã được quy định.Tự học có quan hệ chặt chẽ đến quá trình dạy học, nhưng có tính độc lập cao và mang đậm nét sắc thái của cá nhân” [11]. Tóm lại, tổng hợp các quan niệm về tự học của các tác giả có thể đưa ra khái niệm tự học như sau: Tự học là quá trình con người tự giác cao, tích cực tiếp thu hệ thống tri thức, những kiến thức từ môi trường xung quanh, bằng các thao tác trí tuệ, để biến những tri thức mới thành tri thức của mình, nhằm hoàn thiện nhân cách và đạt được mục đích nhất định. Vai trò của tự học Tự học có vai trò quan trọng và quyết định sự thành đạt của mỗi con người. Trong thực tế, chúng ta có thể thấy rằng người giáo viên luôn đóng một vai trò quan trọng trong việc tổ chức, dẫn dắt điều khiển, hướng dẫn hoạt động học tập của học sinh.
Nhưng dù người giáo viên có kiến thức uyên bác đến đâu, có phương pháp giảng dạy có hay đến cỡ nào mà người học sinh lười học, ỷ lại, không có sự đầu tư về thời gian, không có sự say mê học tập, không có kế hoạch và phương pháp học hợp lý thì kết quả học tập vẫn thấp. Hiện nay, với đất nước công nghiệp hóa hiện đại hóa như nước ta, mọi thành tựu kĩ thuật đang phát triển cũng đòi hỏi ngành giáo dục phải nâng cao tri thức dẫn đến đòi hỏi các 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cấp bậc học phải lĩnh hội các tri thức ngày càng nặng. Chính vì vậy, đòi hỏi người học sinh ngoài học trên lớp phải tự mày mò, tự nghiên cứu ngoài giờ lên lớp để có thể mở rộng và đào sâu tri thức. Hoạt động tự học sẽ giúp cho học sinh rất nhiều trong quá trình học tập.
Thứ nhất, việc tự học là hoạt động chỉ có sự tham gia của người học, không có sự tham gia của người dạy. Chính bản thân người học phải tự tìm tòi ra tri thức. Trong quá trình đó, chúng ta sẽ phải sử dụng các thao tác khác nhau như: so sánh, tưởng tượng, liên tưởng thậm chí phải dùng những kiến thức cũ để, xây dựng và hiểu được kiến thức mới. Điều đó sẽ giúp trí não chúng ta hoạt động linh hoạt, nâng cao nhận thức, giúp cho học sinh nắm vững tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, và chính hoạt động tự học sẽ giúp học sinh biến kho tàng tri thức của nhân loại thành tri thức của mình.
Hoạt động tự học tạo điều kiện cho học sinh hiểu sâu kiến thức, củng cố tri thức, biết vận dụng những kiến thức đã biết vào giải quyết các nhiệm vụ học tập và giải thích một số hiện tượng cuộc sống. Thứ hai, việc tự học cũng gia tăng được chất lượng và hiệu quả giáo dục. Giúp cho học sinh khi còn ngồi trên ghế nhà trường có thói quen rèn luyện bản thân khả năng tự mày mò, tự nghiên cứu để tăng thêm vốn hiểu biết của mình.