Chương 1: Hoạt động tín dung và quản tri rủi ro tín dung tại ngân hàng Vietinbank. Chương 2: Lý thuyết về mô hình VaR. Chương 3: Ứng dụng mô hình VaR trong quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng Vietinbank chi nhánh Hai Duong. Trong bài có sử dụng một số từ viết tat: NHTM: ngân hàng thương mai.
TM: thương mại. SV: Vũ Thị Ngân - CQ522484 Page 7 Chuyên đề thực tập GVHD: Nguyễn Thị Liên CHUONG I: HOAT ĐỘNG TIN DỤNG VÀ QUA TRI RỦI RO TAI NGAN HANG VIETINBANK 1. Hoạt động tin dung của ngân hàng thương mại 1. Một số vấn dé cơ bản của ngân hàng thương mại 1.
Khái niệm, đặc điểm của ngân hàng thương mại Khái niệm của ngân hàng thương mại Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, ngân hàng có rất nhiều loại hình: ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách.trong đó ngân hàng thương mại chiếm tỉ trọng lớn nhất về quy mô tài sản, thị phần và số lượng của các ngân hàng. La một trung gian tài chính, ngân hàng sẽ huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội và dùng chính số tiền cho các cá nhân và tổ chức vay lại, vốn được vận chuyền từ nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn. Rất hiếm khi có tình trạng các chủ nợ đến đòi tiền ngân hàng cùng lúc nên ngân hàng mới làm được điều đó.
Đây là nguyên tắc cơ bản đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng. Hiện nay, có rất nhiều khái niệm về ngân hàng thương mại. Ở Mỹ: ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính. Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng định nghĩa: ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bac của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác, sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính.
Còn ở Việt Nam, theo pháp lệnh ngân hàng hợp tác xã tín dung và công ty tài chính năm 1990: “Ngân hàng thương mai là tô chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu là thường xuyên nhận tiền gửi với trách nhiệm hoàn trả va sử dụng sô tiên đó đê cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiét SV: Vũ Thị Ngân - CQ522484 Page 8 Chuyên đề thực tập GVHD: Nguyễn Thị Liên khẩu để thanh toán. Theo luật các tổ chức tín dụng năm 2010: “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi; sử dụng số tiền này để cung cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”. Như vậy, có rất nhiều khái niệm về NHTM nhưng nói chung tất cả các khái niệm đều dựa trên hoạt động và dịch vụ cung cấp của ngân hàng cho khách hàng. Ngân hàng thương mại là loại hình tô chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng; các hoạt động kinh doanh khác có niên quan như nhận tiền gửi, sử dụng tiền gửi để cung cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán vì mục tiêu lợi nhuận.
Hoạt động của NHTM nhằm mục đích kinh doanh một hàng hóa đặc biệt đó là vốn- tiền, cha lãi huy động vốn thấp hơn lãi suất cho vay vốn, phần chênh lệch lãi suất đó chính là lợi nhuận của NHTM. Hoạt động của NHTM phục vụ cho mọi nhu cầu về vốn của mọi tầng lớp dân chúng và loại hình doanh nghiệp và các tổ chức khác trong xã hội. Đặc điểm của các ngân hàng thương mại Ngân hàng là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, kinh doanh trên nĩnh vực tiền tệ nên nó có những đặc trưng riêng biệt: - Sản pham của các ngân hang thương mai là dịch vụ tài chính chuyên sử ly các vẫn dé về tiền bạc nên có tính chất dé thay đổi dé bắt chước và không có ban quyền. - Nguồn vốn của ngân hàng có tính thanh khoản cao (chủ yếu là do tiền gửi của khách hàng) nên hoạt động chủ yếu trên thị trường tiền tệ.
- Các NHTM đòi hỏi phải có tính truyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa cao và tính tập trung hóa trong hoạt động. NHTM luôn phải chịu sự kiểm soát chặt chẽ về pháp luật do nghiệp vụ ngân hàng luôn tiềm ẩn rủi ro cao. Một trong những điều kiện cơ bản dé tiến hành kinh doanh tiền tệ là chủ sở hữu ngân hàng phải có một nguồn vốn lớn trong kinh doanh. Vốn đóng vai trò sống còn trong việc duy trì các hoạt động cho ngân hang; đảm bảo cho SV: Vũ Thị Ngân - CQ522484 Page 9 Chuyên đề thực tập GVHD: Nguyễn Thị Liên ngân hàng phát triển lâu dài.
Đây là nơi tiết kiệm hàng đầu của công trúng- đặc biệt là tiết kiệm của các cá nhân; hộ gia đình. - Các NHTM phải có các chi nhánh rộng khắp cả nước cơ sở vật chất kỹ thuật cao, đầu tư lớn. Đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp và thân thiện với khách hàng. Các nhà quản lý phải có năng nực cao trong việc xử lý nhanh chóng các vấn đề có khả năng xảy ra; trước khi nó gây ảnh hưởng lớn tới toàn ngân hàng.
- Linh vực kinh doanh của NHTM rat nhạy cảm chịu tác động của nhiều yếu tố về kinh tế, chính trị, xã hội, tâm lý, truyền thống văn hóa.Các nhân tố này dù thay đổi rất nhỏ „nhưng cũng ảnh hưởng nghiêm trọng và nhanh chóng đến môi trường và kết quả kinh doanh của ngân hàng. Hoạt động của NHTM liên quan chặt chẽ tới mọi mặt của nên kinh tế- xã hội. Vì vậy, các NHTM đều có sự giám sát chặt chẽ của Ngân hàng Trung ương, đưa ra cảnh báo sớm dé, phòng ngừa rủi ro tới nguy cơ đồ vỡ của hệ thống ngân hàng. Các hoạt động chính của ngân hàng thương mại Huy động vốn Vốn là nguyên liệu đầu vào cho các hoạt động của ngân hàng, mà vốn chủ sở hữu của ngân hàng chỉ chiếm một phan nhỏ trong tổng số vốn.
Vì thé ngân hàng có thê huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau: - Huy động vốn chủ sở hữu Cũng giống như các loại hình doanh nghiệp khác, NHTM có thê huy động vốn chủ sở hữu trên thị trường vốn, bằng cách phát hành cô phiếu. Nguồn vốn này chỉ chiếm 8 -10% trong tông số vốn nhưng no lại có vai trò vô cùng quan trọng. Vốn chủ sở hữu là nhân tố quyết định đến độ uy tín, an toàn; của một ngân hàng. Vốn chủ sở hữu như là một “phao cứu sinh” cuối cùng cho các rủi ro của ngân hàng nếu rủi ro xảy ra.
Nó cũng tạo điều kiện dé ngân hàng huy động các nguồn vốn khác. - Nhận tiền gửi Đây là nguồn huy động vốn quan trọng; và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số vốn huy động của ngân hàng. Khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, ngân hàng phải trả cho khách hang 1 khoản tiền lãi để khách hàng hi sinh nhu cau chỉ tiêu SV: Vũ Thị Ngân - CQ522484 Page 10 Chuyên đề thực tập GVHD: Nguyễn Thị Liên trước mắt cho ngân hàng tạm thời xử dụng vốn trong 1 khoảng thời gian được quy định. Các ngân hàng thường hay cạnh tranh việc nhận tiền gửi bằng nhiều chương trình khuyến mãi hấp dẫn như: tích lũy điểm, bốc thăm trúng trưởng,va tặng phiếu mua hang.
- Vay von Ngoài 2 hình thức huy động trên, NHTM còn có thé đi vay khi huy động tiền gửi không đủ; hoặc có những hoạt động bất thường xảy ra. Có rất nhiều kênh dé NHTM có thể đi vay như: vay các tô chức tín dụng khác với mức nãi suất ua đêm hoặc lãi suất ngày, vay trực tiếp từ NHTW. Hoạt động tín dụng Hoạt động tín dụng là hoạt động trính của NHTM. Cho vay: Khoản mục cho vay chiếm ty trọng lớn nhất trong tổng tài xan của ngân hàng, là cơ sở tạo ra thu nhập, quyết định, đến sự tồn tại, phát triển của ngân hàng.
Ở những thời kỳ đầu, các ngân hang đã triết khâu thương phiếu mà thực tế là cho vay ,đối với những người bán. Sau đó là bước chuyên tiếp từ cho vay chiết khấu thương phiếu xang cho vay trực tiếp đối với khách hàng có nhu cầu về vốn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Ngân hàng dần trở lên, quan tâm đến việc cho vay vốn đối với những cá nhân có nhu cầu tiêu dùng, hướng tới ho trở thành những khách hàng tiềm năng. Ngày nay, tín dụng tiêu dùng là một trong những loại tín dụng mang lại lợi nhuận cao, và cũng là lĩnh vực mà các ngân hàng quan tâm khai thác mở rộng.
Bên cạnh việc cho vay, truyền thống là ngắn hạn, các ngân hàng ngày cả trở nên yêu thích việc cho vay trung và dài hạn: cho vay xây dựng nhà máy, phát triển các ngành công nghiệp kỹ thuật cao. Bảo lãnh: Bằng uy tín và khả năng tài chính của mình, các NHTM thực hiện việc bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh đấu thầu và nhiều hình thức bảo nãnh khác đối với người nhận bảo lãnh. Mức tổng bảo lãnh của ngân hàng không được vượt quá tỷ lệ xo với vốn chủ sở hữu của NHTM. SV: Vũ Thị Ngân - CQ522484 Page 11 Chuyên đề thực tập GVHD: Nguyễn Thị Liên Cho thuê tài chính: Đề làm được việc lày, các NHTM phải thành nập một công y cho thuê tài chính riêng.
Việc thành lập, phải tuân theo nghị định của chính phủ về việc thành lập, tô chức và hoạt động của một công ty cho thuê tài chính. Đầu tư: Là hoạt động trong đó ngân hàng sử dụng vốn của mình, trực tiếp đầu tư kinh doanh một lĩnh vực nào đó (việc này khác với cho vay dé đầu tư và xây dựng nhà máy). Có nhiều hình thức đầu tư của ngân hàng: kinh doanh chứng khoán, góp vốn liên doanh.Ở Việt Nam, các hình thức đầu tư của NHTM ở mức độ đơn giản, chủ yếu nà đầu tư vào chứng khoán vì mức độ quay vòng tiền nhanh so với các hình thức đầu tư khác. Ngoài ra, do các NHTM đòi hỏi phải có chi nhánh rộng khắp cả nước, cơ sở vật chất kỹ thuật cao nên các NHTM xử dụng khá nhiều tiền để đầu tư trang thiết bị, xây dựng chi nhánh dé đáp ứng nhu cầu của khách hàng.