Chương 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1.1 TÊN ĐỀ TÀI HƯỚNG DẪN QUẢN LÝ CHẤT NGUY HẠI THEO PHÁP LUẬT 1.2 MỤC TIÊU Đề tài nhằm hai mục tiêu chính • Hướng dẫn pháp luật các hoạt động CNH • Đề xuất nhu cầu chỉnh lý, bổ sung về luật pháp 1.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đề tài nghiên cứu áp dụng các phương pháp sau: • Phương pháp tổng hợp tài liệu • Phương pháp phân tích, đối chiếu văn bản pháp quy • Phương pháp ứng dụng công nghệ thông tin: thiết kế web bằng phần mềm Dreamwever 2004 và xử lý thông tin bằng phần mềm MS Excel 2003, MS Word 2003.4 NỘI DUNG Nội dung đề tài gồm • Thống kê văn bản pháp quy về quản lý chất nguy hại. • Tổng quan về áp dụng pháp luật trong quản lý chất nguy hại. • Tổng quan về các website môi trường, chất nguy hại, pháp luật. • Hướng dẫn quản lý chất nguy hại theo pháp luật.
• Xây dựng hệ thống thông tin quản lý chất nguy hại theo pháp luật. • Đánh giá văn bản pháp quy. • Đề xuất nhu cầu sửa đối, bổ sung các văn bản pháp quy.5 Ý NGHĨA MÔI TRƯỜNG, KINH TẾ, XÃ HỘI Đây là đề tài đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu về pháp luật trong quản lý chất nguy hại, phục vụ người sử dụng chất nguy hại. Đề tài có ý nghĩa xã hội lớn, tính khả thi cao, tạo sản phẩm ngay khi thực hiện.
8 • Cung cấp thông tin chuyên sâu về pháp luật quản lý chất nguy hại, mang lại kiến thức cho người dân, doanh nghiệp, nhà quản lý hoá chất và môi trường. • Giảm chi phí cho người sử dụng thông qua cung cấp thông tin miễn phí. • Góp phần xây dựng nội dung số Tiếng Việt phong phú, chuyên sâu và có ích cho người Việt Nam. • Giảm khối lượng giấy mực, thời gian tìm kiếm khi đưa thông tin bằng tài liệu điện tử.
• Mang lại lợi nhuận cho tác giả thông qua quảng cáo.6 ỨNG DỤNG Công ty TNHH. Smart Esol • Cung cấp văn bản pháp quy, tiêu chuẩn, quy chuẩn phục vụ thực hiện đề tài. • Đề xuất nhu cầu hướng dẫn thực hiện hoạt động hoá chất theo pháp luật. • Úng dụng kết quả nghiên cứu cuả đề tài để xây dựng trang kiến thức môi trường.
Công ty TNHH. COFRAVIE • Chạy thử nghiệm website Hướng dẫn quản lý chất nguy hại theo pháp luật. 9 Chương 2 TỔNG QUAN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG QUẢN LÝ CHẤT NGUY HẠI 2.1 TÌNH HÌNH QUẢN LÝ CHẤT NGUY HẠI Ở VIỆT NAM 2.1 Nghiên cứu về pháp luật trong quản lý chất nguy hại Ở Việt Nam, đã có nhiều đề tài nghiên cứu các khía cạnh trong quản lý chất nguy hại như về nguồn gốc, khối lượng, phương pháp xử lý chất thải,… nhưng chưa có nghiên cứu về pháp luật quản lý chất nguy hại. Có rất ít đề tài cuả sinh viên pháp luật làm về vấn đề pháp luật chất nguy hại.
Có một luận văn tốt nghiệp đại học «Pháp luật trong Quản lý Chất thải Nguy hại ở Việt Nam » cuả đại học Luật Hà Nội.2 Hiện trạng quản lý chất nguy hại 2.1 Kết quả đã đạt được Công tác quản lý chất nguy hại (CNH) ở Việt Nam đã đạt được những thành tựu sau: • Từng bước hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về quản lý chất nguy hại. Nhà nước ra văn bản pháp quy cao nhất về quản lý chất nguy hại là Luật Hoá chất số 06/2007/QH12 có hiệu lực từ ngày 01/07/2008. Văn bản pháp quy đầu tiên về quản lý chất nguy hại là quyết định về việc ban hành quy chế quản lý chất thải nguy hại số 155/1999/QĐ-TTg có hiệu lực từ ngày 16/07/1999. Đến tháng 12/2009, Việt Nam đã có 124 văn bản pháp quy liên quan đến quản lý chất nguy hại.
• Có phối hợp giữa các cơ quan Các bộ, ngành, địa phương phối hợp kiểm tra giám sát thực hiện pháp luật quản lý chất nguy hại ở các cơ sở, tham gia thanh tra, phát hiện và xử lý vi phạm.2 Những hạn chế Quản lý chất nguy hại ở Việt Nam bộc lộ không ít hạn chế. • Chưa có hệ thống thông tin quản lý chất nguy hại Ở Việt Nam chưa có hệ thống thông tin quản lý chất nguy hại, chưa có hướng dẫn thực hiện theo pháp luật đối với các hoạt động liên quan đến chất nguy haị. Bộ Tài 10 nguyên và Môi trường có trang web Hệ thống quản lý chất thải nguy hại http://www.net nhưng còn đang thử nghiệm và chưa hoàn chỉnh. • Không kiểm soát hết các hành vi vi phạm Vi phạm pháp luật về quản lý chất nguy hại là rất nhiều, số lượng vụ việc được phát hiện, khởi tố điều tra rất hạn chế.
Xử phạt không đủ răn đe, các doanh nghiệp nhận thấy dễ dàng nộp phạt vi phạm và chấp nhận vòng luẩn quẩn kiểm tra - vi phạm - phạt - nộp phạt - tái phạm. Tình trạng doanh nghiệp lừa dối, dấu chất nguy hại trong hàng hoá xuất nhập khẩu không khai báo rất phổ biến. Trong 4 năm nước ta đã nhập khẩu hơn 36.000 tấn rác thải công nghiệp độc hại. Chỉ tính riêng từ năm 2003 đến tháng 2/2006, đã có hơn 2000 container có trọng lượng hơn 36.000 tấn nhập khẩu vào các cảng biển, cửa khẩu, và hàng ngàn tấn phế thải nguy hại trá hình dưới hình thức phế liệu để tái chế như nhựa, sắt thiết bị công nghệ cũ lạc hậu [2].
• Quy hoạch vận chuyển, lưu trữ, xử lý, thải bỏ chất nguy hại chưa theo đúng quy định của pháp luật và chưa đúng với công nghệ xử lý chất nguy hại. Hiện nay trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM.000 xí nghiệp đang hoạt động có sử dụng hóa chất, hợp chất có những đặc tính nguy hiểm đối với môi trường, nhưng mới có khoảng 600 xí nghiệp có đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại với cơ quan chức năng ở địa phương để được quản lý, xử lý nguồn chất thải nguy hại theo đúng quy định. Như vậy, chỉ có 2% xí nghiệp thực hiện theo các quy định của pháp luật [4]. Qua khảo sát tình hình quản lý môi trường các khu công nghiệp (KCN) trên 70% trong 192 KCN trong cả nước chưa có hệ thống xử lý chất thải [3].
Hầu hết các KCN không thực hiện quy hoạch khu xử lý chất thải rắn, chưa thiết lập hệ thống thu gom, phân loại, lưu trữ vận chuyển chất thải rắn, chất thải nguy hại.3 Bất cập về nhân lực Nguồn nhân lực quản lý chưa đáp ứng được nhu cầu về số lượng và chất lượng. Trình độ chuyên môn cuả người thi hành pháp luật không phù hợp. Đội ngũ thi hành 11 pháp luật có trình độ chuyên môn thấp, năng lực thực hiện luật kém, lợi dụng luật nhũng nhiễu hành dân đang diễn ra phổ biến, nhất là cán bộ ở cấp địa phương. Lực lượng thanh tra của sở Tài nguyên và Môi trường TPHCM rất mỏng và yếu, vừa kiểm soát chất thải, ô nhiễm môi trường, vừa đảm nhiệm kiểm tra về chất thải nguy hại.
Trung bình mỗi thanh tra viên phải cáng đáng từ 80 đến 90 doanh nghiệp [17] 2.2 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VÀO QUẢN LÝ Vấn đề triển khai áp dụng các văn bản pháp luật về quản lý chất nguy hại hết sức khó khăn.1 Đòi hỏi phải kết hợp đồng bộ nhiều yếu tố Trong thực tế việc áp dụng pháp luật vào quản lý đòi hỏi kết hợp đồng bộ cuả nhiều yếu tố gồm Nhiều cơ quan cùng tham gia quản lý, giám sát, thực thi. Tuyên truyền, giáo dục để các đối tượng liên quan hiểu biết và nâng cao được ý thức tự giác thực hiện trách nhiệm của mình. Vấn đề đầu tư vốn, phương tiện xử lý chất nguy hại. Xác định mức độ vi phạm và xử phạt, v.2 Ý thức thực hiện pháp luật quản lý chất nguy hại cuả nhân dân còn kém Các cơ sở sản xuất kinh doanh và đại bộ phận nhân dân chưa có hiểu biết về pháp luật chất nguy hại nên họ không biết được họ đang tham gia vào hoạt động chất nguy hại và cần có những yêu cầu gì khi thực hiện.
Luật được ban hành nhưng người dân ít được tiếp cận làm cản trở luật đi vào cuộc sống. Nếu pháp luật minh bạch, đảm bảo được những tiêu chí công khai sẽ góp phần nâng cao trình độ hiểu và thực thi pháp luật của người dân. Đó là nguyên nhân các sự việc vi phạm phát luật về yêu cầu giấy phép và an toàn rất sơ đẳng đã xảy ra được báo chí nói rất nhiều. Ngày 13/04/2009, phát hiện gần 90 tấn chất thải độc hại đang lưu giữ không có giấy phép tại nhà riêng cuả dân, tại phường Hiệp Thành, quận 12, TPCHM.
Ngày 29/10/2009, cảnh sát môi trường phát hiện xe tải vận chuyển 14 tấn bột kim loại có chì tại Bình Dương [22].3 Hiểu văn bản luật không thống nhất Luật phải được áp dụng như nhau trên cả nước, nhưng mỗi cơ quan, mỗi địa phương triển khai thực hiện theo cách hiểu khác nhau. Vụ cháy do lưư trữ, vận chuyển hàng hoá dễ cháy tại ga Giáp Bát có các bên liên quan gồm: Ga Giáp Bát, công ty Sài Gòn hoả xa, Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam. • Phía Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam khẳng định trách nhiệm thuộc về Công ty Sài Gòn hoả xa vì họ thực hiện không đúng quy định vận chuyển hàng hoá. • Phía Công ty Sài Gòn Hoả xa cho rằng công ty chỉ có trách nhiệm nhận và vận chuyển hàng hoá nguyên đai nguyên kiện trước khi thực hiện vận chuyển đều làm thủ tục và có cam kết cụ thể, bên thuê vận chuyển hoàn toàn chịu trách nhiệm về loại hàng hoá đóng trong các linh kiện bao hàng này.
[20] Theo nghị định 109/2006/NĐ-CP quy định trách nhiệm của những người có liên quan đến vận tải hàng nguy hiểm như sau: • Khoản 4 điều 30 quy định: đối với loại nhóm hàng nguy hiểm thì phải xếp dỡ, lưu kho ở khu vực riêng để đảm bảo an toàn theo đặc trưng của hàng đó. Trường hợp này, hàng nguy hiểm đã được xếp dỡ và lưu kho ngay tại ga là vi phạm pháp luật. • Khoản 1 và 2 điều 33 quy định: người thuê vận tải hàng nguy hiểm phải có giấy phép do cơ quan có thẩm quyền cấp, phải lập tờ khai hàng nguy hiểm trong đó có ghi tên hàng nguy hiểm, mã số, loại nhóm hàng nguy hiểm, khối lượng, loại bao bì… Ở đây, trong tờ khai vận chuyển hàng hoá của ga Giáp Bát và Tổng Công ty Đường sắt VN không có loại hàng hoá nào dễ gây cháy nổ. Như vậy, người thuê vận tải vi phạm pháp luật.