CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LẬP VÀ TRÌNH BÀY BÁO CÁO TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về báo cáo tài chính doanh nghiệp 1. Khái niệm về báo cáo tài chính doanh nghiệp Báo cáo tài chính được xem xét trên những góc độ khác nhau như: theo chức năng cung cấp thông tin, theo nội dung phản ánh., trong nghiên cứu và trong thực hành kế toán. Do đó, có thể có các quan điểm khác nhau như: Theo khoản 1 Điều 3 của Luật Kế toán năm 2015, Báo cáo tài chính là hệ thống thông tin kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán được trình bày theo biểu mẫu quy định tại chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán.
Theo tác giả Ngô Thế Chi (2007, tr.532), Giáo trình kế toán tài chính, NXB Tài chính: “Báo cáo tài chính là phương pháp tổng hợp số liệu từ các sổ kế toán theo các chỉ tiêu kinh tế tài chính tổng hợp, phản ánh có hệ thống thông tin tình hình tài sản, nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp, tình hình và hiệu quả xuất kinh doanh, tình hình lưu chuyển tiền tệ và tình hình quản lý, sử dụng vốn. của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định vào một hệ thống biểu mẫu quy định thống nhất”. Theo tác giả Võ Văn Nhị (2011, tr.31), Hướng dẫn lập - đọc và phân tích báo cáo tài chính báo cáo quản trị, NXB Tài chính: “Báo cáo tài chính cung cấp thông tin kinh tế tài chính đáng tin cậy về hoạt động của một thực thể kinh tế và phục vụ rộng rãi các đối tượng sử dụng thông tin này ở bên trong và bên ngoài một thực thể kinh tế” Báo cáo tài chính bao gồm một hệ thống số liệu kinh tế tài chính được tổng hợp và rút ra từ các số liệu kế toán tổng hợp, các sổ kế toán chi tiết và những thuyết minh cần thiết bằng văn bản về những số liệu đó. Báo cáo tài chính là phương pháp quan trọng để chuyển tải thông tin kế toán tài chính đến người ra quyết định.
Các khái niệm về Báo cáo tài chính có khác nhau do nhìn nhận báo cáo tài chính trên những góc độ khác nhau, nhưng về bản chất thì không có sự khác nhau, tựu chung lại đều khẳng định báo cáo tài chính là sản phẩm cuối cùng của hoạt động kế toán và được lập trên cơ sở các nguyên tắc và phương pháp riêng của kế toán, cung cấp các thông tin về tài sản, nguồn vốn, kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp…, phục vụ cho đối tượng bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. 7 Như vậy, về bản chất báo cáo tài chính là một hệ thống thông tin được xử lý bởi hệ thống kế toán tài chính, nhằm phục vụ cho các đối tượng sử dụng, cung cấp thông tin tài chính có ích cho các đối tượng sử dụng đó, để đưa ra các quyết định quản lý kinh tế. Tuy nhiên, hình thức và nội dung của báo cáo tài chính còn phụ thuộc vào cơ chế kinh tế và sự quy định của mỗi quốc gia. Trong Hệ thống kế toán Việt Nam, Báo cáo tài chính được xác định là loại báo cáo tổng hợp về tình hình tài sản, nguồn vốn cũng như tình hình và kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định, được thể hiện thông qua hệ thống các chỉ tiêu có mối liên hệ mật thiết với nhau do Nhà nước quy định thống nhất bắt buộc.
Tóm lại, qua những quan điểm phân tích trên về báo cáo tài chính, khẳng định bản chất của báo cáo tài chính là sự kết hợp của những sự kiện xảy ra trong quá khứ với những nguyên tắc kế toán đã được thừa nhận và những đánh giá của các nhân tố, nhằm chủ yếu cung cấp thông tin tài chính hữu ích cho các đối tượng sử dụng. Các thông tin hữu ích do báo cáo tài chính cung cấp là các thông tin biểu hiện dưới hình thái giá trị về tình hình hiện có và sự biến động của tài sản và nguồn hình thành tài sản. Chất lượng của thông tin được cung cấp bởi báo cáo tài chính là rất quan trọng cho các đối tượng sử dụng. Do đó, trình bày và công bố các thông tin tài chính phải tuân thủ các nguyên tắc: Trình bày một cách trung thực và khách quan nhất về tình hình tài chính của một tổ chức nhằm phục vụ cho việc ra quyết định quản lý của nhà quản lý bên trong cũng như bên ngoài tổ chức đó.
Phân loại báo cáo tài chính doanh nghiệp Để quản lý và sử dụng đúng đắn thông tin kế toán của các doanh nghiệp có sự khác nhau về đặc điểm kinh doanh, về hình thức sở hữu, về quy mô tổ chức, về yêu cầu quản lý., nhà nước quy định nhiều loại báo cáo tài chính khác nhau được phân loại dựa trên các tiêu thức khác nhau, cụ thể: a. Theo nội dung kinh tế của thông tin phản ánh trên báo cáo tài chính: - Bảng cân đối kế toán (B CĐKT): Là Báo cáo tài chính (BCTC) tổng hợp, phản ánh toàn bộ giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệp (DN) tại một thời điểm nhất định. - Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (BC KQHĐKD): Là BCTC tổng hợp, phản ánh tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ. 8 - Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (BC LCTT): Là BCTC tổng hợp, phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của DN.
- Thuyết minh báo cáo tài chính (TM BCTC): Là BCTC mô tả mang tính tường thuật hoặc phân tích chi tiết các thông tin số liệu đã được trình bày trong B CĐKT, BC KQHĐKD, BC LCTT, cũng như các thông tin cần thiết khác theo yêu cầu của các chuẩn mực kế toán cụ thể. Theo tính chất và yêu cầu quản lý: - BCTC định kỳ: Là hệ thống báo cáo được lập định kỳ theo yêu cầu quản lý của nhà nước, của DN. Theo quy định hiện hành, hệ thống BCTC định kỳ gồm: BCTC năm, BCTC giữa niên độ dạng đầy đủ và dạng tóm lược. - BCTC bất thường: Là hệ thống BCTC được lập vào các thời điểm khi DN có những sự kiện bất thường như: chia tách, sát nhập, hợp nhất, chuyển đổi hình thức sở hữu, giải thể, chấm dứt hoạt động, phá sản, thanh tra.
Theo đặc điểm và tổ chức quản lý: - BCTC DN thông thường: Là hệ thống báo cáo mà tất cả các DN hạch toán kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân đầy đủ, đều phải lập theo quy định, để phản ánh và cung cấp thông tin về tình hình tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu tại thời điểm kết thúc kỳ báo cáo, kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình lưu chuyển các luồng tiền trong kỳ báo cáo của DN. - BCTC hợp nhất: Là hệ thống báo cáo mà các tập đoàn, công ty mẹ hoạt động theo mô hình có công ty con phải lập theo quy định để tổng hợp và trình bày một cách tổng quát, toàn diện tình hình tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu tại thời điểm kết thúc kỳ báo cáo; kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình lưu chuyển các luồng tiền theo kỳ báo cáo của tập đoàn, tổng công ty. - BCTC tổng hợp: Là hệ thống báo cáo mà các đơn vị kế toán cấp trên có các đơn vị kế toán trực thuộc, các tổng công ty hoạt động theo mô hình không có công ty con phải lập theo quy định để phản ánh và cung cấp thông tin về tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh, tình hình lưu chuyển tiền tệ của toàn đơn vị, tổng công ty. Phân loại theo kỳ lập - BCTC năm: Là hệ thống báo cáo được lập vào thời điểm cuối năm tài chính tại thời điểm cuối năm tài chính để cung cấp thông tin đầy đủ về tình hình tài sản, nợ phải 9 trả, nguồn vốn chủ sở hữu tại thời điểm kết thúc năm tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình lưu chuyển các luồng tiền của DN trong năm tài chính.
- BCTC giữa niên độ: Là hệ thống báo cáo được lập vào thời điểm cuối mỗi quý để cung cấp thông tin về tình hình hoạt động kinh doanh của DN. BCTC giữa niên độ được chia ra thành: BCTC giữa niên độ dạng đầy đủ và BCTC giữa niên độ dạng tóm lược. Phân loại theo mức độ khái quát của thông tin trên BCTC - BCTC dạng đầy đủ: Là hệ thống BCTC được lập để cung cấp thông tin đầy đủ về tình hình tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu tại thời điểm kết thúc kỳ báo cáo, kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình lưu chuyển các luồng tiền của DN trong kỳ báo cáo. - BCTC dạng tóm lược: là hệ thống BCTC được lập để cung cấp các thông tin chủ yếu, mang tính tổng hợp cao về tình hình tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của một DN sau một kỳ hoạt động kinh doanh.
Vai trò của báo cáo tài chính trong doanh nghiệp Thông thường vai trò của BCTC được xem xét thông qua mục đích và lợi ích mang lại của việc sử dụng thông tin của một số đối tượng chủ yếu. Theo IASB và FASB, các đối tượng sử dụng BCTC bao gồm nhà đầu tư hiện tại và tiềm năng, người cho vay và các nợ khác và một số đối tượng khác liên quan đến việc ra các quyết định kinh tế. Các nhà đầu tư hiện tại và tiềm năng, người cho vay và các chủ nợ khác cần thông tin về các nguồn lực của DN không chỉ để đánh giá lưu chuyển của dòng tiền thuần trong tương lai mà còn đánh giá hiệu quả quản lý đối với việc sử dụng các nguồn lực hiện hữu của DN. Họ không thể yêu cầu DN cung cấp thông tin trực tiếp mà phải dựa vào BCTC cho nhiều thông tin tài chính mà họ cần.
Vì vậy, họ là những người sử dụng chính mà BCTC hướng tới. Các quyết định của nhà đầu tư hiện tại và tiềm năng về việc mua bán hoặc nắm giữ các cổ phiếu và các công cụ nợ phụ thuộc vào thu nhập mà họ mong đợi từ việc đầu tư, ví dụ như cổ tức, các khoản thanh toán nợ gốc và lãi hoặc sự gia tăng giá trị thị trường. Tuy nhiên, BCTC không thể cung cấp tất cả thông tin mà nhà đầu tư, người cho vay và chủ nợ khác cần.