Giáo Trình Lập Lưới Khống Chế Cơ Sở Mặt Bằng Nghề Trắc Địa Công Trình

Giáo trình lập lưới khống chế cơ sở mặt bằng nghề trắc địa công trình cao đẳng cung cấp kiến thức và kỹ năng cần thiết cho sinh viên.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo Trình

2021

90
11
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

1. Khái quát về lưới khống chế mặt bằng

1.1. Khái niệm

1.2. Mục đích xây dựng lưới khống chế mặt bằng

1.3. Nguyên tắc xây dựng lưới

1.4. Phân loại

1.4.1. Phân loại theo quy mô và độ chính xác

1.4.1.1. Lưới khống chế mặt bằng Nhà nước
1.4.1.2. Lưới khống chế mặt bằng khu vực
1.4.1.3. Lưới khống chế đo vẽ

1.4.2. Phân loại theo phương pháp xây dựng lưới

1.4.2.1. Phương pháp tam giác
1.4.2.2. Phương pháp đường chuyền
1.4.2.3. Phương pháp kết hợp
1.4.2.4. Phương pháp trắc địa vệ tinh

1.5. Độ chính xác của lưới

1.6. Các yêu cầu kỹ thuật chủ yếu của các cấp lưới GPS

1.7. Hệ thống vệ tinh nhân tạo

1.7.1. Đoạn không gian

1.7.2. Đoạn điều khiển

1.7.3. Đoạn sử dụng

1.8. Mật độ điểm khống chế mặt bằng

1.8.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến mật độ điểm khống chế mặt bằng

1.8.1.1. Khái niệm về mật độ điểm khống chế mặt bằng
1.8.1.2. Cơ sở lựa chọn mật độ điểm khống chế

1.8.2. Phương pháp đo vẽ bản đồ địa hình

1.8.3. Đặc điểm địa hình, địa vật của khu vực cần đo vẽ

1.8.4. Tỷ lệ bản đồ cần đo vẽ

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Lưới Khống Chế Mặt Bằng Trong Trắc Địa Công Trình

Lưới khống chế mặt bằng là một phần quan trọng trong công tác trắc địa công trình. Nó bao gồm các điểm khống chế được xác định chính xác tọa độ, tạo thành mạng lưới giúp cho việc đo vẽ bản đồ và bố trí công trình. Việc xây dựng lưới khống chế mặt bằng không chỉ đảm bảo độ chính xác mà còn giúp tiết kiệm thời gian và chi phí trong quá trình thi công.

1.1. Khái Niệm Về Lưới Khống Chế Mặt Bằng

Lưới khống chế mặt bằng là hệ thống các điểm khống chế được rải đều trên mặt đất, giúp xác định tọa độ mặt bằng một cách chính xác. Mục đích chính của lưới này là tạo cơ sở cho các công tác đo vẽ bản đồ và bố trí công trình.

1.2. Nguyên Tắc Xây Dựng Lưới Khống Chế

Nguyên tắc xây dựng lưới khống chế mặt bằng là từ tổng thể đến cục bộ, từ độ chính xác cao đến độ chính xác thấp. Mạng lưới khống chế được xây dựng với mật độ thưa và chính xác cao, sau đó chêm dày bằng lưới có mật độ điểm lớn hơn.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Trong Lập Lưới Khống Chế Mặt Bằng

Việc lập lưới khống chế mặt bằng gặp nhiều thách thức, từ việc xác định vị trí điểm khống chế đến việc đảm bảo độ chính xác trong các điều kiện địa hình khác nhau. Những vấn đề này cần được giải quyết để đảm bảo hiệu quả trong công tác trắc địa.

2.1. Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Độ Chính Xác

Độ chính xác của lưới khống chế mặt bằng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như điều kiện địa hình, phương pháp đo vẽ và mật độ điểm khống chế. Việc xác định các yếu tố này là rất quan trọng để đảm bảo chất lượng lưới.

2.2. Khó Khăn Trong Việc Xây Dựng Lưới Khống Chế

Khó khăn trong việc xây dựng lưới khống chế bao gồm việc xác định vị trí các điểm khống chế trong điều kiện địa hình phức tạp và việc sử dụng công nghệ hiện đại như GPS để đảm bảo độ chính xác cao.

III. Phương Pháp Lập Lưới Khống Chế Mặt Bằng Hiệu Quả

Có nhiều phương pháp để lập lưới khống chế mặt bằng, mỗi phương pháp có ưu điểm và nhược điểm riêng. Việc lựa chọn phương pháp phù hợp sẽ giúp tối ưu hóa quá trình xây dựng lưới.

3.1. Phương Pháp Tam Giác Trong Lập Lưới

Phương pháp tam giác là một trong những phương pháp phổ biến nhất trong việc lập lưới khống chế. Các mốc khống chế được chọn và chôn trên mặt đất, tạo thành các đỉnh của tam giác, giúp liên kết với nhau tạo thành lưới.

3.2. Phương Pháp Đường Chuyền Trong Lập Lưới

Phương pháp đường chuyền liên kết các điểm khống chế tạo thành đường gãy khúc. Phương pháp này thường được sử dụng trong các khu vực có địa hình phức tạp, giúp đảm bảo độ chính xác cao trong việc đo vẽ.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Lưới Khống Chế Mặt Bằng

Lưới khống chế mặt bằng có nhiều ứng dụng trong thực tiễn, từ việc đo vẽ bản đồ đến bố trí công trình. Những ứng dụng này không chỉ giúp tiết kiệm thời gian mà còn nâng cao độ chính xác trong công tác trắc địa.

4.1. Ứng Dụng Trong Đo Vẽ Bản Đồ

Lưới khống chế mặt bằng được sử dụng rộng rãi trong công tác đo vẽ bản đồ địa hình. Nó giúp xác định vị trí các điểm chi tiết một cách chính xác, đảm bảo chất lượng bản đồ.

4.2. Ứng Dụng Trong Bố Trí Công Trình

Trong việc bố trí công trình, lưới khống chế mặt bằng giúp xác định vị trí các công trình một cách chính xác, từ đó đảm bảo tính khả thi và hiệu quả trong thi công.

V. Kết Luận Về Lưới Khống Chế Mặt Bằng Trong Trắc Địa Công Trình

Lưới khống chế mặt bằng đóng vai trò quan trọng trong công tác trắc địa công trình. Việc xây dựng lưới này cần được thực hiện một cách khoa học và hợp lý để đảm bảo độ chính xác và hiệu quả trong công việc.

5.1. Tương Lai Của Lưới Khống Chế Mặt Bằng

Với sự phát triển của công nghệ, lưới khống chế mặt bằng sẽ ngày càng được cải tiến. Công nghệ GPS và các phương pháp hiện đại sẽ giúp nâng cao độ chính xác và hiệu quả trong việc lập lưới.

5.2. Những Xu Hướng Mới Trong Lập Lưới Khống Chế

Xu hướng mới trong lập lưới khống chế mặt bằng là sử dụng công nghệ vệ tinh và các phần mềm hiện đại để tối ưu hóa quá trình xây dựng lưới, từ đó nâng cao chất lượng công tác trắc địa.

16/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

BỘ XÂY DỰNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ XÂY DỰNG GIÁO TRÌNH MÔ ĐUN: LẬP LƯỚI KHỐNG CHẾ CƠ SỞ MẶT BẰNG NGHỀ: TRẮC ĐỊA CÔNG TRÌNH TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG Quảng Ninh, năm 2021 TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thể được phép dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và tham khảo. Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh doanh thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm. THIẾT KẾ LƯỚI KHỐNG CHẾ MẶT BẰNG CƠ SỞ ĐO VẼ BÌNH ĐỒ TRÊN BẢN ĐỒ 1. Khái quát về lưới khống chế mặt bằng cơ sở 1.

Khái niệm Lưới khống chế mặt bằng là hệ thống các điểm khống chế được rải đều, đánh dấu mốc vững chắc trên mặt đất, được xác định chính xác tọa độ mặt bằng (x, y hoặc B, L) và liên kết với nhau tạo thành mạng lưới. Mục đích xây dựng lưới khống chế mặt bằng Lưới khống chế mặt bằng được xây dựng nhằm làm cơ sở trắc địa về mặt bằng cho công tác đo vẽ bản đồ, bố trí công trình, v. Nguyên tắc xây dựng lưới Mạng lưới khống chế mặt bằng được xây dựng theo nguyên tắc từ tổng thể đến cục bộ, từ độ chính xác cao đến độ chính xác thấp. Đầu tiên, người ta xây dựng mạng lưới khống chế có mật độ thưa và chính xác cao phủ trùm toàn bộ lãnh thổ.

Sau đó chêm dày bằng lưới khống chế có mật độ điểm lớn hơn và độ chính xác thấp hơn. Lưới cấp thấp nhất có độ chính xác đáp ứng yêu cầu của công tác trắc địa chi tiết như đo vẽ các loại bản đồ. Phân loại Tùy theo tiêu chí đưa ra, lưới khống chế mặt bằng có thể được phân thành các nhóm loại khác nhau. Nhưng chủ yếu lưới được phân loại theo hai tiêu chí: - Phân loại theo quy mô và độ chính xác - Phân loại theo phương pháp xây dựng lưới 1.

Phân loại theo quy mô và độ chính xác Theo quy mô và độ chính xác lưới khống chế mặt bằng được chia làm ba loại: - Lưới khống chế mặt bằng Nhà nước - Lưới khống chế mặt bằng khu vực - Lưới khống chế đo vẽ a. Lưới khống chế mặt bằng Nhà nước Lưới khống chế mặt bằng Nhà nước được xây dựng tuần tự theo bốn cấp hạng: Hạng I, II, III, IV. Trong đó lưới khống chế mặt bằng hạng I có độ chính xác cao nhất, phủ trùm toàn quốc. Lưới khống chế mặt bằng hạng II được chêm dày vào lưới hạng I, sau đó chêm dày thêm lưới hạng III và hạng IV.

Ngoài bốn cấp hạng trên, thực tế mạng lưới trắc địa mặt bằng Nhà nước đã được đo bổ sung một số lưới sau: 3 - Lưới GPS cạnh ngắn khu vực Minh Hải, Sông Bé, Tây Nguyên Khu vực Minh Hải, Sông Bé, Tây Nguyên có điều kiện địa hình khó khăn nên không có điều kiện xây dựng lưới khống chế mặt bằng Nhà nước theo phương pháp truyền thống. Vì vậy từ năm 1991 đến năm 1993 Cục Đo đạc và Bản đồ Nhà nước đã áp dụng công nghệ GPS để xây dựng lưới tọa độ cho khu vực này. Tổng số lượng điểm trong lưới là 117 điểm. - Lưới GPS cạnh dài trên đất liền và trên biển Lưới cạnh dài trên biển Để liên kết được toạ độ trên đất liền và trên biển, năm 1992 Cục Đo đạc và Bản đồ Nhà nước đã áp dụng công nghệ GPS xây dựng nối các đảo và quần đảo chủ yếu với hệ thống toạ độ trên đất liền.

Lưới gồm 36 điểm, trong đó có 9 điểm thuộc các lưới tam giác, đường chuyền dọc bờ biển. Lưới cạnh dài trên đất liền Năm 1993 Liên hiệp Khoa học Sản xuất Trắc địa Bản đồ (thuộc Cục Đo đạc - Bản đồ) đã đo lưới GPS cạnh dài trên đất liền nối một số điểm trong lưới tam giác, đường chuyền từ Bắc đến Nam để tăng cường độ chính xác cho lưới Nhà nước. Lưới này gồm 10 điểm trên lãnh thổ Việt Nam, là các điểm trùng với lưới mặt đất đã xây dựng. Cả lưới cạnh dài trên đất liền và trên biển tạo thành một lưới cạnh dài chung phủ trùm cả nước (cả trên đất liền và trên biển).

Lưới này có cạnh ngắn nhất là 160 km và dài nhất là 1200 km. - Lưới GPS cấp “0” Cuối năm 1995 Tổng cục Địa chính đã quyết định sử dụng công nghệ GPS để xây dựng lưới tọa độ cấp “0” với các mục đích sau: + Kiểm tra chất lượng của các lưới hạng I và hạng II đã xây dựng, kết nối thống nhất và tăng cường độ chính xác cho lưới này. + Tạo công cụ nghiên cứu có độ chính xác cao cho các bài toán trắc địa trên lãnh thổ Việt Nam, trong đó có việc xác định hệ quy chiếu quốc gia, xây dung mạng lưới khống chế mặt bằng quốc gia hiện đại, nghiên cứu biến động vỏ trái đất, nghiên cứu dịch chuyển lục địa. + Là phương tiện để đo nối với các lưới tọa độ khu vực và Thế giới, đồng thời tạo sự đổi mới, phát triển công nghệ xây dựng lưới tọa độ ở Việt nam.

Lưới cấp “0” gồm 68 điểm, trong đó có 56 điểm trùng với điểm tọa độ cũ và 13 điểm mới. Chiều dài cạnh trung bình là 70 km. - Mật độ điểm của các cấp hạng Mật độ điểm của lưới hạng I là nhỏ nhất, mật độ điểm của lưới hạng II, III, IV tăng dần. 4 Trung bình 500 km2 có một điểm hạng I, 120 km2 có một điểm hạng II, 50 km2 có một điểm hạng III và 10 km2 có một điểm hạng IV.

Khu vực quan trọng có thể tăng mật độ điểm gấp hai lần mật độ trung bình. - Độ chính xác của các cấp hạng Ngược lại với mật độ, độ chính xác của lưới hạng I là cao nhất, độ chính xác của lưới hạng II, III, IV giảm dần. Lưới trắc địa mặt bằng Việt Nam đảm bảo sai số tương hỗ giữa các điểm lân cận cùng cấp hạng là 5  6 cm, tương ứng với sai số trung phương tương đối cạnh hạng I là 1:400 000, cạnh hạng IV là 1:70 000. Lưới khống chế mặt bằng khu vực - Cấu trúc lưới khống chế mặt bằng khu vực Lưới khống chế mặt bằng khu vực gồm hai cấp : cấp 1 và cấp 2.

Lưới khống chế trắc địa mặt bằng khu vực thường là dạng lưới tam giác hoặc đường chuyền chêm dày vào giữa các điểm lưới khống chế mặt bằng Nhà nước. - Mật độ điểm lưới khống chế mặt bằng khu vực Mật độ điểm của lưới cấp 1 nhỏ hơn mật độ điểm của lưới cấp 2. Mật độ điểm của lưới cấp 2 trở lên cần đảm bảo 4 điểm trên 1 km 2 đối với khu vực xây dựng và 1 điểm trên 1 km2 đối với khu vực chưa xây dựng. - Độ chính xác lưới khống chế mặt bằng khu vực Độ chính xác của lưới cấp 1 cao hơn độ chính xác của lưới cấp 2.

Sai số trung phương vị trí điểm khống chế khu vực so với điểm lân cận không vượt quá 0,1 mm tính theo tỷ lệ bản đồ cần thành lập. Lưới khống chế đo vẽ lưới khống chế đo vẽ là lưới chêm dày vào mạng lưới khống chế mặt bằng Nhà nước và lưới khu vực để đảm bảo mật độ điểm phục vụ đo vẽ bản đồ địa hình. Mật độ điểm và độ chính xác của lưới phụ thuộc vào đặc điểm địa hình của khu vực đo vẽ, tỷ lệ bản đồ cần đo vẽ. Phân loại theo phương pháp xây dựng lưới a.

Phương pháp tam giác Trong phương pháp này, các mốc khống chế được chọn và chôn trên mặt đất, chúng tạo thành các đỉnh của tam giác và liên kết với nhau tạo thành lưới tam giác (hình 5-1). I B III V 1 2 8 9 13 15 4 10 17 Sc 3 7 14 5 6 11 12 16 18 a IV VI II Hình 5-1: Sơ đồ lưới tam giác 5 Các yếu tố đo trong lưới có thể là góc, hoặc cạnh. Dựa vào chủng loại trị đo, lưới tam giác đo góc được chia ra làm các loại sau: Lưới tam giác đo góc: Trị đo trong lưới là tất cả các góc trong tam giác Lưới tam giác đo cạnh:Trị đo trong lưới là tất cả các cạnh trong tam giác Lưới tam giác đo góc cạnh: Trị đo trong lưới bao gồm cả góc và cạnh. Có thể đo tất cả các góc, tất cả các cạnh hoặc đo một số góc và một số cạnh.

Phương pháp đường chuyền Trong phương pháp này, các điểm khống chế được chọn và chôn trên mặt đất và được liên kết với nhau tạo thành đường gãy khúc (hình5-2). B D I III V a II IV C Hình 5-2: Sơ đồ lưới đường ề Trị đo trong lưới là tất cả các cạnh và các góc ngoặt của đường chuyền. Phương pháp kết hợp Theo phương pháp này, lưới gồm có cả dạng kết cấu tam giác và đường chuyền. VI B II VII a III I V IV VIII C Hình 5-3: Sơ đồ lưới dạng Loại lưới này thườngkết hợptrong vùng có địa hình phức tạp.

Phương pháp trắc địa vệ tinh Các phương pháp xây dựng lưới khống chế mặt bằng đã nêu trên có các nhược điểm sau: - Các điểm liền kề nhau tạo thành đồ hình cơ bản phải trực tiếp hoặc sau khi xây dựng tiêu phải trông thấy nhau (phải thông hướng). 6 - Do ảnh hưởng của độ cong trái đất và chiết quang nên chiều dài cạnh bị hạn chế. Hơn nữa cạnh càng dài, tiêu phải càng cao, gây khó khăn tốn kém về kinh tế. Chính vì vậy lưới tam giác hạng I (lưới bậc cao nhất) thì chiều dài cạnh trung bình chỉ là 25 km.

- Rất khó khăn khi sử dụng các phương pháp này để liên kết toạ độ trên đất liền và hải đảo. - Khó khăn khi thực hiện công tác đo nối lưới quốc gia với hệ thống toạ độ khu vực và quốc tế để giải quyết các bài toán chung trên toàn cầu. - Khối lượng công tác đo đạc lớn, cần nhiều nhân lực và bị phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết. Lưới trắc địa vệ tinh có thể khắc phục được các nhược điểm trên.

Hiện nay, trên thế giới và Việt Nam, lưới trắc địa vệ tinh bằng công nghệ GPS được dùng phổ biến để xây dựng lưới khống chế mặt bằng. ở Việt Nam từ đầu những năm 90 của thế kỷ trước, Cục Đo đạc và Bản đồ Nhà nước bắt đầu dùng công nghệ GPS. Cho đến nay, công nghệ GPS đã được dùng để xây dựng lưới cấp cao hơn hạng I (cấp 0) và đến cả cấp khống chế thấp nhất là lưới đo vẽ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Hướng Dẫn Lập Lưới Khống Chế Mặt Bằng Trong Trắc Địa Công Trình" cung cấp một cái nhìn tổng quan về quy trình thiết lập lưới khống chế mặt bằng, một yếu tố quan trọng trong trắc địa công trình. Tài liệu này không chỉ hướng dẫn chi tiết các bước thực hiện mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sử dụng công nghệ hiện đại trong việc nâng cao độ chính xác và hiệu quả của công tác đo đạc. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích thiết thực từ việc áp dụng các phương pháp này, giúp cải thiện chất lượng công trình và tiết kiệm thời gian.

Để mở rộng kiến thức của bạn về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu "Luận văn ứng dụng công nghệ gps xây dựng lưới khống chế đo vẽ phục vụ công tác thành lập bản đồ địa chính xã văn lãng huyện yên bình tỉnh yên bái", nơi bạn sẽ tìm thấy ứng dụng cụ thể của công nghệ GPS trong việc xây dựng lưới khống chế. Bên cạnh đó, tài liệu "Luận văn thạc sĩ hus nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng kỹ thuật gps đo động xử lý sau trong đo đạc địa chính thử nghiệm trên địa bàn thành phố hải phòng" sẽ cung cấp thêm thông tin về các giải pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng GPS trong đo đạc địa chính. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các công nghệ và phương pháp hiện đại trong lĩnh vực trắc địa.