CHƯƠNG 1 1. Phân loại khuyết tật chi tiết máy như thế nào? 2. Trình bày các dạng ma sát. Cho ví dụ cụ thể.
Cho biết nguyên nhân và biện pháp đề phòng của các dạng hư hỏng do biến dạng dẻo, do mài mòn và do rạn nứt. Cho biết nguyên nhân và biện pháp đề phòng của các dạng hư hỏng do bị ôxy hóa, do bộ mặt trượt bị dính và do bị ăn mòn. Hãy trình bày các tiêu chuẩn về độ mòn giới hạn của một vài chi tiết điển hình. Trình bày các phương pháp tìm khuyết tật của chi tiết máy.
Trang 6 Chương 2 CHUẨN BỊ KỸ THUẬT VÀ VẬT LIỆU CHO SỬA CHỮA 2. Chuẩn bị sửa chữa máy Các công việc chuẩn bị sửa chữa máy bao gồm: – Chuẩn bị mặt bằng, chỗ làm việc. – Chuẩn bị máy trước khi sửa chữa. – Tháo máy và rửa các chi tiết máy.
– Lập phiếu sửa chữa, nghiên cứu các tài liệu kỹ thuật (bản vẽ và các tài liệu công nghệ) và chuẩn bị dụng cu, đồ nghề. – Chuẩn bị các chi tiết thay thế cần dùng trong sửa chữa (mua hoặc gia công theo bản vẽ). Chuẩn bị máy trước khi sửa chữa Trước khi đưa máy vào sửa chữa, cần phải làm sạch phoi, bụi, v.v…, phải xả cạn dầu và dung dịch trơn nguội. Nếu không tháo máy khỏi nền thì phải làm vệ sinh khu vực xung quanh máy.
Nếu máy được đem đi sửa chữa ở nhà máy khác thì phải gửi kèm theo máy các tài liệu kỹ thuật sau đây: – Những tài liệu về máy của nhà chế tạo máy. – Biên bản đánh giá tình trạng kỹ thuật của máy trước khi sửa chữa. – Bảng thống kê toàn bộ các chi tiết và cụm gửi đi sửa chữa cùng với máy. Khi lập biên bản đánh giá tình trạng kỹ thuật, cần tham khảo ý kiến của các công nhân đứng máy, thợ cơ điện và thợ nguội sửa chữa đã từng bảo trì máy trong quá trình làm việc.
Lập phiếu bảo trì, chuẩn bị các chi tiết thay thế và dụng cụ sửa chữa Phiếu bảo trì nêu các chi tiết máy cần thay hoặc sửa chữa và những công việc cần tiến hành đối với những chi tiết này cùng những thông tin liên quan khác, chẳng hạn như những cải tiến cần thiết đối với máy. Sau khi rửa và sấy khô cần tiến hành đo lường, kiểm tra các chi tiết ở dạng tháo rời cũng như khi lắp thành cụm. Trước tiên cần đo kích thước, xác định độ mòn rồi dò tìm khuyết tật chi tiết để quyết định chi tiết còn dùng được hay phải sửa chữa hoặc loại bỏ. Nếu các chi tiết trong cụm còn dùng lại được, phải lắp ghép thành cụm để kiểm tra độ chính xác của kích thước lắp ghép.
Đối với những cụm máy tĩnh, yêu cầu kín hơi hoặc kín nước thì phải kiểm tra nghiêm ngặt các yêu cầu kỹ thuật này. Sau khi kiểm tra, các khuyết tật của máy, của các cụm và những chi tiết cần thay thế, phục hồi, … đều được liệt kê tỉ mỉ trong phiếu bảo trì. Do đó mà phiếu bảo trì là tài liệu chỉ đạo sửa chữa: các kỹ sư thiết kế, công nghệ, quản đốc phân xưởng sửa chữa và công nhân sửa chữa máy ở tất cả các giai đoạn sửa chữa đều tiến hành công việc theo phiếu bảo trì. Phiếu bảo trì được xây dựng theo hai giai đoạn: giai đoạn lập sơ bộ và giai đoạn Trang 7 lập chính thức.
Giai đoạn lập sơ bộ giống như bản liệt kê công việc. Trong phiếu bảo trì sơ bộ phải thống kê các chi tiết được thay thế mới khi sửa chữa, kể cả những chi tiết tuy không thay nhưng việc sửa chữa chúng đòi hỏi phải nghiên cứu công nghệ, vẽ các bản vẽ, … Nói chung, tất cả những gì có thể làm được trước khi chính thức sửa chữa đều được nêu trong phiếu bảo trì sơ bộ để giảm bớt thời gian và những khó khăn khi sửa chữa. Tất cả các chi tiết, phụ tùng, trang thiết bị cần dùng khi sửa chữa nếu đã có trong kho cũng cần chú thích trong phiếu bảo trì sơ bộ. Trước khi sửa chữa 10 15 ngày, tất cả những chi tiết nêu trong phiếu bảo trì và những thứ phải mua ngoài đã phải có đầy đủ trong nhà máy hoặc phân xưởng sửa chữa.
Máy được tháo ra để chính thức sửa chữa chỉ khi nào tất cả các chi tiết đặt làm và đặt mua phù hợp với phiếu bảo trì sơ bộ đã chuẩn bị xong và nằm trong kho. Trong thời gian tháo máy và sửa chữa, phiếu bảo trì sơ bộ được xây dựng chính xác hơn, một phần nào có thay đổi, như vậy nó sẽ được bổ xung hoàn chỉnh và trở thành phiếu bảo trì chính thức. Ở phiếu bảo trì chính thức, tất cả những vấn đề vụn vặt, tỉ mỉ trong công tác sửa chữa không có trong phiếu bảo trì sơ bộ đều được xét đến. Phiếu bảo trì chính thức chỉ rõ thời gian những chi tiết hư hỏng của máy sẽ được thay mới.
Các phương pháp lắp ghép chi tiết cũ với chi tiết mới cũng được nêu lên. Phiếu bảo trì chính thức còn thống kê tất cả các phương tiện, vật chất cần dùng cho các công việc từ đầu cho tới lúc tháo máy ra khỏi nền, tháo máy thành cụm và chi tiết, vận chuyển máy đến xưởng sửa chữa, tiến hành sửa chữa, thử nghiệm năng suất, lắp ráp với thiết bị điện tại chỗ sau khi sửa chữa và giao máy cho ban kiểm nghiệm. Trong suốt quá trình lập phiếu sửa chữa, ở mỗi giai đoạn cần có sự tham gia của đội trưởng đội sửa chữa, quản đốc phân xưởng sửa chữa hoặc trưởng ban kiểm nghiệm cùng quản đốc và cán bộ kỹ thuật phân xưởng có máy. Ví dụ về phiếu bảo trì được nêu ở bảng 2−1.
Phiếu bảo trì máy Trang 9 2. Chuẩn bị kỹ thuật Việc chuẩn bị kỹ thuật cho sửa chữa gồm có hai nội dung: – Chuẩn bị các tài liệu thiết kế. – Chuẩn bị các giải pháp công nghệ. Chuẩn bị các tài liệu thiết kế Trước khi bắt đầu công việc sửa chữa phải tiến hành các công việc thiết kế để chuẩn bị các tài liệu kỹ thuật.
Việc thiết kế gồm có: – Xác định danh mục các chi tiết cần chế tạo mới và phục hồi (xem phiếu bảo trì). – Chọn các vật liệu cần thiết cho các chi tiết phải chế tạo mới. – Lập bản vẽ chế tạo (bao gồm bản vẽ phác và bản vẽ chế tạo) cho cả các chi tiết phải chế tạo mới và các chi tiết được phục hồi. Bản vẽ chế tạo các loại trục Khi lập bản vẽ chế tạo các loại trục, phải thực hiện các công việc chính như sau: − Trước hết phải xác định kích thước danh nghĩa của chúng.
Phải chú ý đến các chỗ mòn để tìm lại kích thước ban đầu của chúng. Đối với những kích thước sửa chữa hay phục hồi thì phải xác định phù hợp với các kích thước của chi tiết đối ghép. Đường kính danh nghĩa của các chi tiết máy chuyên ngành thường được xác định theo tiêu chuẩn. − Đo đạc kết hợp với tính chất làm việc của các bề mặt để quyết định độ nhám bề mặt, dung sai và chế độ lắp ghép của các đường kính.
Cần phải dựa vào đặc điểm và điều kiện làm việc của từng loại thiết bị và bộ phận máy mà quyết định và lựa chọn. Ví dụ: các chi tiết của máy cắt gọt kim loại thông thường có độ chính xác cấp 5 6 theo TCVN 2244 − 91, v.v… Đối với một số trục cho phép sửa chữa theo kích thước sửa chữa thì tùy theo hướng dẫn sử dụng máy mà lựa chọn đường kính, dung sai lắp ghép chế tạo khi sửa chữa hay phục hồi. Bản vẽ chế tạo các bộ truyền bánh răng Khi lập bản vẽ chế tạo cho các bánh răng bị mòn, một vài thông số cấu tạo của bánh răng phải xác định bằng cách tính ngược. Bảng 2–2 trình bày các công thức tính toán có quan hệ đến sự ăn khớp hình học của bộ truyền bánh răng trụ răng thẳng ăn khớp ngoài (hình 2–1).
Khó khăn nhất là xác định các thông số của các bánh răng ăn khớp có điều chỉnh bị mòn. Vì có sự dịch chu tuyến khởi thủy khi cắt răng làm cho các bánh răng có sự xê dịch vòng đỉnh hay vòng chân răng so với vòng cơ sở. Do đó, cùng với các thông số điều chỉnh của ăn khớp răng, điều quan trọng là phải xác định dấu và trị số của hệ số điều chỉnh . Trang 10 Sau khi xác định được các thông số đó, môđun ăn khớp của bánh răng được tính theo công thức: Hình 2−1.
Các ký hiệu để tính bộ truyền bánh rang. De m= Z 2 + f 0 +ξ 2 Lập bản vẽ của bánh răng côn đã bị mòn cũng rất khó khăn. Môđun của bánh răng côn trong trường hợp này được xác định theo đường kính vòng đỉnh qua công thức: De m= Z1 + f0 cos 1 Trang 11 Z1 Trong đó: 1 = arctg là góc của côn cơ sở. Z2 Tất cả các thông số còn lại của bộ truyền bánh răng côn được tính theo các các công thức trong các sổ tay thiết kế cơ khí.
Khi cắt răng của bánh răng trụ răng thẳng và răng nghiêng, bánh răng côn răng thẳng bằng dụng cụ cắt tiêu chuẩn, trên bản vẽ chỉ cần ghi kích thước chiều dài khoảng cách hay chiều dày răng trên cung vòng chia và chiều cao răng từ dây cung vòng chia. Đó là những kích thước cần thiết để kiểm tra răng. Bánh răng có môđun lớn hơn 20mm khi vận tốc tiếp tuyến đến 1,0m/s thường đúc xong là dùng ngay mà không cần gia công cơ khí, còn khi vận tốc tiếp tuyến từ 1,0 2,1m/s thì cần gia công bào theo vạch dấu. Trong trường hợp này thường dùng cách vẽ đơn giản hóa prôfin răng dạng răng thân khai có góc ăn khớp 200 theo bảng 4−1 và hình 4−2.
Trên bản vẽ bánh răng phải có tiêu chuẩn dung sai được xác định theo TCVN 1067 − 84. Cách vẽ đơn giản bánh răng 3. Bản vẽ chế tạo bánh xích Kích thước bước xích có thể phục hồi theo lý lịch máy, theo tiêu chuẩn hay dấu trên má xích. Biết số răng của bánh xích dễ dàng phục hồi tất cả các kích thước còn lại của bánh xích bằng cách tính toán theo công thức tính các kích thước hình học của bánh xích trong các sổ tay thiết kế cơ khí.