CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE HỢP TÁC GIÁO DỤC VIỆT NAM - NHẬT BẢN TRONG ĐÀO TẠO BAC ĐẠI HỌC 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm hop tác giáo dục quốc té trong đào tạo bậc đại học Ý tưởng về sự hợp tác giữa các quốc gia lần đầu tiên được thể hiện trong khoản 3 điều 1 Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945, rằng một trong những mục đích của tổ chức là “Thực hiện sự hợp tác quốc tế trong việc giải quyết các van đề quốc tế về kinh tế, xã hội, văn hoá và nhân đạo và khuyến khích phát triển sự tôn trọng các quyền của con người và các tự do cơ bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ ngôn ngữ hoặc tôn giáo” [Liên hợp quốc, 1945]. Mặc dù Hiến chương Liên hợp quốc không nêu định nghĩa về hợp tác quốc tế nói chung và hợp tác giáo dục quốc tế nói riêng, song văn bản này là cơ sở nền tảng căn bản để các nước trên thế giới thực hiện việc hợp tác quốc tế của mình.
Theo từ điền tiếng Việt, “hợp tác” là cùng nhau chung sức, góp sức dé cùng phát triển một công việc, lĩnh vực nào đó với cùng chung một mục đích [Viện ngôn ngữ, 2010]. Theo Lê Thị Thu Huyền (2019), hợp tác quốc tế là “một hệ thống những mỗi quan hệ quốc gia vốn được hình thành, xác định và dựa trên cơ sở chính trị đối ngoại của từng quốc gia, nhưng lại mang trong mình những quy luật hoạt động và phát triển riêng có của chúng” [Lê Thị Thu Huyền, 2019, tr. Theo Lương Văn Thắng (2020), hợp tác quốc tế là phương thức mà các chủ thé (quốc gia/khu vực) tương tác với nhau nhằm đạt được mục tiêu của mình trong quan hệ quốc tế. Hợp tác quốc tế chỉ xuất hiện khi hai hay nhiều quốc gia (khu vực) tham gia cùng cam kết đạt được mục tiêu chung.
Khi đó, họ sẽ cùng nhau thực hiện những hoạt động chung và cùng chia sẻ nguồn lực. Kết quả của hợp tác quốc tế phụ thuộc chủ yếu vào mức độ cam kết của các thành viên. Mục tiêu của hợp tác có thé thay đổi theo thời gian, nhưng không thé chuyên sang hoặc tạo ra một kết quả hoàn toàn trái ngược [Lương Văn Thắng, 2020, tr. Còn Nguyễn Thị Ngoan (2022), lập luận hợp tác quốc tế 13 là sự liên kết lại của một số cá nhân mang trong mình những quốc tịch khác nhau và sinh sống trên các quốc gia trên thế giới.
Đồng thời họ sẽ cùng hướng tới một mục tiêu, không chống phá, chiến tranh với nhau. Như vậy, có thê hiểu, hợp tác quốc tế hoặc hợp tác giữa các quốc gia là việc các quốc gia trên toàn thé giới cùng nhau chung sức, góp sức dé cùng phát triển một lĩnh vực nào đó với cùng chung một mục đích, không chống phá hoặc phá hoại lợi ích của nhau. Hợp tác quốc tế bao gồm hợp tác song phương (một nước với một nước khác); Hợp tác đa phương (một nước với nhiều nước khác trong một hiệp định ký kết); Hợp tác của một nước với một tô chức quốc tế như các tô chức của Liên hợp quốc (UN), UNESCO. Về mặt chủ thé, trong quan hệ hop tác quốc tế, các chủ thé ở đây được chia thành ba loại, bao gồm: chủ thé quốc gia, chủ thé phi quốc gia và chủ thé dưới quốc gia.
Quốc gia là một thực thê pháp lý quốc tế và phải có các đặc tính gồm: Một dân cư thường xuyên, một lãnh thổ xác định và một chính phủ có khả năng duy tri sự kiểm soát hiệu quả trên lãnh thé của nó và tiến hành quan hệ quốc tế với quốc gia khác. Chủ thê quốc gia là chủ thể cơ bản và có vai trò lớn nhất trong quan hệ hợp tác quốc tế. Chủ thể phi quốc gia là những chủ thé không phải là quốc gia. Đây là loại chủ thé có sự độc lập tương đối với quốc gia và có quy mô hoạt động vượt khỏi biên giới quốc gia như: các tổ chức phi chính phủ, công ty đa quốc gia, một số nhóm chính trị - xã hội.
Chủ thể dưới quốc gia là chủ thể hoạt động phụ thuộc khá nhiều vào quốc gia nhưng cũng có sự độc lập tương đối và đóng vai trò nhất định, ví dụ như: chính quyền địa phương, cá nhân., chủ thể này hoạt động phụ thuộc khá nhiều vào quốc gia. Theo Tờ điển Tiếng Việt, “giáo dục đào tạo là hoạt động tác động có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của con người để họ dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu dé ra” [Viện ngôn ngữ, 2010]. Hoạt động giáo dục đào tạo bao gồm giáo dục mẫu giáo, giáo dục phô thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học. Hợp tác giáo dục quốc té trong dao tao bac dai hoc co thé được hiểu là hợp tác về các hoạt động đào tạo bậc đại học giữa các cơ sở dao tạo bậc đại 14 học của các nước hoặc vùng lãnh thổ trên thế giới để cùng nhau tiến hành giảng dạy, đào tạo, nghiên cứu, trao đối các kết quả nghiên cứu, thông tin khoa học áp dụng vào thực tiễn hoạt động của nhà trường; thiết lập các quỹ học bồng, tư vấn, tài trợ đầu tư phát triển cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật trường học, góp phan thúc đây sự phát triển chất lượng của giáo dục, đào tạo bậc đại học của các bên.
Chủ thê của hợp tác giáo dục quốc tế trong đảo tạo bậc đại học chủ yếu là các cơ sở đào tạo bậc đại học của các nước hoặc vùng lãnh thổ trên thế giới. Cac cơ sở dao tạo đại học có thể gồm: trường đại học, học viện, đại học vùng, đại học quốc gia; viện nghiên cứu khoa học được phép đào tạo trình độ tiến sĩ; tổ chức khác có liên quan đến đảo tạo đại học. Trong luận văn nay, tác giả tập trung vào tìm hiểu hoạt động hợp tác giáo dục ở bậc đại học giữa Việt Nam và Nhật Bản, mà ở đó nó mang vai trò là một bộ phận của hợp tác quốc tế về giáo dục. Hoạt động này có thé do các cơ quan quản lý Nhà nước về giáo dục thực hiện, hoặc diễn ra trong hệ thống các cơ sở giáo dục bậc dai học với nhau, là hoạt động của chủ thé thuộc một trường đại học hợp tác với chủ thé thuộc quốc gia khác nhằm mục đích dap ứng nguyện vọng của nhau về mọi mặt trong điều kiện hợp tác.
Khái niệm hợp tác giáo dục Việt Nam - Nhật Bản trong đào tạo bậc đạt học Hiện nay gần như chưa có một khái niệm cụ thê chính xác về hợp tác giáo dục đại học giữa Việt Nam và Nhật Bản, phan lớn cách hiểu về hợp tác giáo dục đại học đều dựa vào Điều số 45 Luật sửa đôi bổ sung một số điều của Luật giáo dục đại học ban hành ngày 19/11/2018. Tuy nhiên dựa trên việc khảo cứu tài liệu, tác giả luận văn cho rằng: Hợp tác giáo dục Việt Nam - Nhật Bản trong đảo tạo bậc đại học là hợp tác về các hoạt động đào tạo đại học giữa các tô chức có liên quan đến đào tạo đại học tại Việt Nam với các tô chức có liên quan đến đảo tạo đại học Nhật Bản nhằm một mục đích phát triển giáo dục, đảo tạo đại học của 2 nước Việt Nam và Nhật Bản. Việc hợp tác giáo dục Việt Nam - Nhật Bản trong đào tạo bậc đại học có thê được thực hiện trong 3 lĩnh vực chính gồm: 1) Liên kết dao tạo đại học, 15 đào tạo tiếng Nhật và giao lưu văn hóa giữa các trường đại học; 2) Hợp tác nghiên cứu khoa học và chuyền giao công nghệ, tô chức hội nghị, hội thảo khoa học; 3) Thiết lập các quỹ học bồng, tư vấn, tài trợ đầu tư phát triển cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật trường học. Sự cần thiết hợp tác giáo dục Việt Nam — Nhật Ban trong đào tạo bậc đại học đối với hai nước 1.
Đối với Việt Nam Thứ nhất, hợp tác quốc tế đặt ra yêu cầu cho nền giáo dục Việt Nam phải triển khai và phát triển tính quốc tế trong môi trường sư phạm. Chiến lược phát triển giáo dục đảo tạo của nước ta hiện nay cũng đã khẳng định hội nhập quốc tế sâu rộng về giáo dục song vẫn phải giữ được cơ sở của bản sắc dân tộc, khang dinh duoc chu quyén quốc gia. Sự cần thiết phải đôi mới và nâng cao trình độ giáo dục đại học ở Việt Nam được quy định bởi nhu cầu phát triển của đất nước và xu thế chung của thế giới. Ở trong nước, công cuộc đổi mới đã diễn ra được hơn 35 năm và ngày càng đi vào chiều sâu.
Yêu cầu chuyển đổi mô hình kinh tế từ chiều rộng sang chiều sâu và sự cần thiết tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng chất lượng, hiệu quả, có sức cạnh tranh cao đòi hỏi giáo dục đại học phải đáp ứng nhu cầu học tập của người dân và nhanh chóng góp phần đào tạo ra đội ngũ nhân lực chất lượng cao. Nếu không có sự đôi mới, nâng cao trình độ, chất lượng sẽ dẫn đến nguồn nhân lực kém chất lượng và nó sẽ trở thành một trong những yếu tố cản trở sự phát triển của đất nước. Hoạt động hợp tác quốc tế giúp định hướng sự phát triển của giáo dục đại học theo hướng hiện đại, tiếp cận nền giáo dục đại học tiên tiến trong khu vực và trên thế giới. Thông qua hoạt động, các chương trình hợp tác quốc tế với các nền giáo dục tiên tiến, hiện dai, các trường đại học trong nước có thể rút ra các kinh nghiệm quý giá trong việc đổi mới tư duy, phương thức quản lý giáo dục, lựa chọn phương hướng, cải tiến hệ thống và quy trình đào tạo, kết hợp nghiên cứu khoa học với giảng dạy, đồng thời biết tận dụng thời cơ và lợi thế để từng bước kéo gần khoảng cách giữa giáo dục trong nước và thế giới.
Ngoài ra, hoạt động này tạo điều kiện cho các trường đại học phát triển 16 bền vững, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ cho việc phát triển đất nước. Thứ hai, hợp tác quốc tế giúp các trường Dai học ở Việt Nam nâng cao được năng lực cạnh tranh của mình và thu hút nhiều nhân tài hơn nữa. Nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ngày một trở nên cấp bách đòi hỏi giáo dục bậc đại học của Việt Nam không chỉ tăng cường năng lực nội tại trong nước mà rất cần có sự hợp tác quốc tế.