đặt vấn đề khấu hao như các loại tài sản cố định khác. - Các công trình KCHT giao thông đường bộ là những công trình mang tính chất hàng hóa công cộng không thuần túy. Hàng hóa công cộng được đặc trưng bởi hai thuộc tính cơ bản: không có tính cạnh tranh và không thể loại trừ. Không có tính cạnh tranh hay còn gọi là tính dùng chung trong tiêu dùng nghĩa là: nếu một người tiêu dùng hàng hóa đó thì một người khác cũng có thể tiêu dùng nó cùng lúc mà không làm tăng thêm chi phí để cung cấp, cũng không làm thay đổi mức độ thỏa mãn của người thứ nhất.
Không thể loại trừ có nghĩa là nếu người thứ nhất đang tiêu dùng hàng hóa thì cũng không ngăn cản được người thứ hai tiêu dùng nó, hoặc là rất tốn kém nếu muốn loại trừ người tiêu dùng đó. Nếu một loại hàng hóa công cộng không có đầy đủ cả hai đặc điểm đó thì người ta gọi loại hàng hóa đó là hàng hóa công cộng không thuần túy. Các công trình giao thông đường bộ thuộc loại hàng hóa công cộng không thuần túy vì chúng không có đầy đủ cả hai thuộc tính của một loại hàng hóa công cộng. - Tính tiên phong, định hướng: muốn phát triển sản xuất và các hoạt động xã hội thì hệ thống hạ tầng phải được đi trước một bước, nghĩa là phải được xây dựng xong, hoàn chỉnh sau đó các hoạt động sản xuất và đời sống xã hội mới có thể diễn ra.
- Tính vùng: Do đặc điểm các công trình giao thông mang tính cố định, đi qua nhiều địa bàn thuộc các địa phương khác nhau quản lý, cho nên khi chọn địa điểm xây dựng phải cân nhắc đầy đủ, toàn diện để chọn phương án tuyến cho phù hợp, vừa đảm bảo yêu cầu phát triển KT-XH của một địa phương, vừa đảm bảo tính kết nối và yêu cầu phát triển KT-XH của địa phương khác, vì vậy trong 18 qui hoạch cần phải đảm bảo tính phù hợp với qui hoạch chung của Quốc gia và qui hoạch vùng. - Lợi ích mang lại của KCHT giao thông đường bộ thường phát huy trong thời gian dài, không chỉ người dân đang sống hiện tại ở địa phương được hưởng lợi, mà các thế hệ sau này cũng vẫn được hưởng những lợi ích đó. Điều này cho phép nhà nước và các địa phương có thể huy động nguồn vốn dưới hình thức vay và trả nợ từ các tổ chức và cá nhân bằng phát hành công trái quốc gia hoặc trái phiếu đầu tư địa phương.2 Khái niệm về hợp tác công – tư (PPP) trong hạ tầng giao thông đường bộ Khái niệm về PPP hạ tầng giao thông đường bộ cũng tương tự như các khái niệm về PPP nói chung, tuy nhiên, trong hạ tầng giao thông đường bộ với những đặc điểm riêng nên khái niệm có một số riêng biệt so với các hình thức khác. PPP trong hạ tầng giao thông đường bộ là việc nhà nước đồng ý cùng tư nhân hợp tác thực hiện cung cấp hạ tầng giao thông đường bộ thuộc sở hữu nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định và tư nhân được quyền quản lý, thu phí từ người sử dụng hay được hoàn trả tiền đầu tư thông qua một hình thức khác.3 Đặc điểm hợp tác công – tư (PPP) trong hạ tầng giao thông đường bộ Thứ nhất, thời gian thực hiện dài.
Việc hợp tác giữa Nhà nước và Tư nhân trong hạ tầng giao thông đường bộ thực hiện trong một khoản thời gian dài thường từ 20 – 30 năm. Do giá trị đầu tư lớn và việc thu phí không được làm ảnh hưởng lớn đến đời sống kinh tế - xã hội nên thời gian thu kéo dài để Nhà đầu tư có thể thu hồi được vốn và một mức lợi nhuận chấp nhận được. Thứ hai, giá trị đầu tư ban đầu lớn. Các dự án hạ tầng giao thông nói chung và đường bộ nói riêng, đều có mức đầu tư ban đầu rất lớn.
Đây là đặc 19 điểm gây khó cho việc thu hút vốn đầu tư vào CSHT vì các Nhà đầu tư không đủ khả năng để trang trải toàn bộ chi phí đầu tư. Vì vậy, cần có nhiều bên tham gia cùng lúc, Nhà nước, Nhà đầu tư và Nhà tài trợ. Bên cạnh đó, việc giá trị đầu tư lớn thời gian thu hồi dài cũng kém hấp dẫn nên Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ để làm tăng thêm tính khả thi cho các dự án CSHT giao thông đường bộ. Thứ ba, có sự tham gia của nhiều bên.
Như đã nói, Nhà đầu tư không đủ kinh phí để có thể cùng lúc chi trả toàn bộ chi phí nên cần có sự tham gia của Nhà tài trợ là các định chế tài chính cùng tham gia thông qua việc cho vay. Thứ tư, rủi ro không đạt được mục tiêu của các bên lớn. Đầu tư ban đầu lớn trong khoảng thời gian dài nên các dự án CSHT giao thông đường bộ phải chịu hầu hết các rủi ro có thể xảy ra như: rủi ro thương mại, pháp lý, chính trị, kỹ thuật, môi trường và xã hội.4 Các hình thức hợp tác công – tư (PPP) chủ yếu trong hạ tầng giao thông đường bộ Trong công tác xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ có các hình thức hợp tác như: Mô hình xây dựng - vận hành - chuyển giao BOT (Build - Operate - Transfer) là hình thức do công ty thực hiện dự án sẽ đứng ra xây dựng và vận hành công trình trong một thời gian nhất định sau đó chuyển giao toàn bộ cho nhà nước. Mô hình BTO (xây dựng - chuyển giao - vận hành) là mô hình sau khi xây dựng xong thì chuyển giao ngay cho nhà nước sở hữu nhưng công ty thực hiện dự án vẫn giữ quyền khai thác công trình.
Mô hình BT (xây dựng – chuyển giao) là hình thức nhà đầu tư thực hiện dự án xong chuyển giao ngay cho Nhà nước và được thanh toán lại chi phí.5 Nội dung hợp tác công – tư (PPP) 20 Các bên vốn có những thế mạnh riêng của mình, việc hợp tác này dựa trên cơ sở những thế mạnh của nhau, tận dụng ưu thế của mỗi bên để cùng thực hiện. Và hợp tác chủ yếu dựa trên bốn nội dung cơ bản sau: a) Nguồn vốn: Về nguồn vốn, PPP sẽ cho phép Nhà nước tận dụng được nguồn vốn lớn của khu vực tư nhân cho các dự án về hạ tầng giao thông đường bộ mà mình kêu gọi đầu tư. Vốn đầu tư có vai trò rất quan trọng trong phát triển cơ sở hạ tầng, nếu không nói là có tính quyết định đến sự phát triển thành công cơ sở hạ tầng. Vốn huy động đầu tư lớn thì sẽ có tương ứng với qui mô dự án lớn và ngược lại, bên cạnh đó, việc huy động được một khối lượng vốn lớn sẽ đảm bảo cho dự án được hoàn thành đúng theo tiến độ.
Nhà nước khát vốn đầu tư cho các dự án cơ sở hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông đường bộ trong khi đó khu vực tư nhân có nhiều lợi thế về mặt này, nên khi các bên cùng hợp tác sẽ thu được lợi ích mình mong muốn, Nhà nước có cơ sở hạ tầng cho phát triển kinh tế - xã hội, Tư nhân thu được lợi nhuận từ khoản đầu tư này. Giá trị lợi ích của dự án đầu tư theo hình thức BOT dễ thấy nhất là việc ngân sách không phải bỏ tiền ra để đầu tư xây dựng mà vẫn tạo được công trình kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế xã hội đảm bảo chất lượng và hiệu quả theo yêu cầu. Bằng cách này, Nhà nước vẫn đầu tư xây dựng được cơ sở hạ tầng nhưng không tạo áp lực cho NSNN và đặc biệt là không làm tăng gánh nặng nợ công. Hơn thế nữa, sau một thời gian nhất định, công trình đầu tư bằng hình thức BOT cũng sẽ được chuyển giao lại cho Nhà nước quản lý.
Với đặc điểm, khi bàn giao cho Nhà nước phần lớn các công trình đầu tư theo hình thức BOT chưa khấu hao hết, đặc biệt là các công trình xây dựng giao thông đường bộ, công trình hạ tầng cảng song biển thì đây cũng là một giá trị lợi ích mang lại của dự án đầu tư theo hình thức khi Nhà nước không phải đầu tư vốn từ ngân sách vẫn có được những giá trị tài sản nhất định. Trường hợp phải vay vốn để đầu tư thì ngoài việc tổ chức thực hiện đầu tư, quản lý vốn Nhà nước còn phải trả lãi 21 vay, trong khi đó bằng việc cấp phép đầu tư dự án theo hình thức BOT thì Nhà nước không những tiết kiệm được chi phí lãi vay mà ngược lại còn có lợi từ việc đầu tư vào công trình bằng nguồn cho vay (cho Nhà đầu tư vay lại từ các nguồn TPCP, ODA, cung cấp tín dụng từ các ngân hàng thương mại, trong đó có ngân hàng thương mại nhà nước…). [17] Dự án sau khi hoàn thành, các nhà đầu tư được hoàn toàn chủ động trong khâu kinh doanh, khai thác công trình để thu hồi vốn và lợi nhuận trong một khoảng thời gian xác định theo quy định của pháp luật trước khi chuyển giao cho Nhà nước. Đầu tư vốn cho dự án BOT hầu hết các doanh nghiệp có sự đảm bảo vể lợi ích và lợi nhuận chắc chắn hơn so với các hình thức khác.
Chẳng hạn, như đối với Hợp đồng BT, việc Nhà đầu tư được nhận lợi ích từ một công trình khác của Nhà nước có thể phải chờ trong một thời gian, phải đầu tư thêm vốn và xét về mặt hiệu quả có thể lợi ích từ công trình này sẽ không bằng được công trình nhà đầu tư đã bàn giao cho Nhà nước. [17] b) Công nghệ: PPP trong hạ tầng giao thông đường bộ về khía cạnh công nghệ: Các nghiên cứu khoa học công nghệ mới được ứng dụng vào thực tế dự án, sẽ làm tăng thêm tính tiện ích dự án hợp tác mang lại như: Thứ nhất, về kết cấu hạ tầng. Công nghệ đường giao thông đô thị; đường cao tốc; đường hầm xuyên núi, vượt sông; mỗi loại đường có đặc điểm kết cấu khác nhau nên việc hợp tác sẽ mang lại cho các bên cơ hội học hỏi, trải nghiệm những công nghệ mới. Người dân có cơ hội sử dụng các công trình hiện đại, công nghệ cao, chất lượng tốt phục vụ cho đời sống.
Thứ hai, ứng dụng công nghệ làm giảm ùn tắc, giảm tai nạn giao thông.