Khóa luận tốt nghiệp luật học hợp đồng uỷ quyền theo quy định của pháp luật dân sự việt nam

Khóa luận phân tích hợp đồng ủy quyền theo quy định pháp luật dân sự Việt Nam, làm rõ quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng.

Chuyên ngành

Luật Dân sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2025

85
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng ủy quyền

Hợp đồng ủy quyền là một chế định pháp lý quan trọng trong pháp luật dân sự Việt Nam, được quy định tại Bộ luật Dân sự 2015. Đây là loại hợp đồng theo đó một bên (gọi là bên ủy quyền) giao phó cho bên kia (gọi là bên được ủy quyền) thực hiện một hoặc nhiều việc nhất định thay mặt cho mình. Hợp đồng ủy quyền có những đặc điểm riêng biệt như: không có tính chất lợi ích kinh tế trực tiếp, có tính chất tín dụng cao giữa các bên, và có thể chấm dứt bất kỳ lúc nào. Chế định này ra đời để giải quyết thực tiễn những trường hợp chủ thể không thể tự mình tham gia vào các giao dịch dân sự, từ đó hoàn thành các giao dịch thông qua hành vi của người đại diện.

1.1. Khái niệm hợp đồng ủy quyền

Hợp đồng ủy quyền theo Bộ luật Dân sự là hợp đồng mà một bên giao phó cho bên kia. Trong đó, bên ủy quyền giao cho bên được ủy quyền quyền thực hiện một hoặc nhiều công việc pháp lý nhất định. Bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc này với sự hành động của mình nhưng vẫn tuân theo chỉ dẫn của bên ủy quyền.

1.2. Đặc điểm chính của hợp đồng ủy quyền

Hợp đồng ủy quyền có những đặc điểm nổi bật: không phải là giao dịch kinh tế lợi nhuận, dựa trên tính tin tưởng cao giữa các bên, có tính chất lâu dài hoặc tạm thời, và có thể chấm dứt đơn phương. Ngoài ra, bên được ủy quyền phải thực hiện đúng theo chỉ định của bên ủy quyền và phải báo cáo kết quả công việc.

II. Quy định pháp luật hiện hành về hợp đồng ủy quyền

Pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành, đặc biệt Bộ luật Dân sự 2015, đã quy định chi tiết về hợp đồng ủy quyền từ các khía cạnh khác nhau. Chủ thể của hợp đồng ủy quyền phải có năng lực pháp luật và năng lực hành động theo quy định. Nội dung hợp đồng bao gồm quyền và nghĩa vụ của cả hai bên: bên ủy quyền có quyền yêu cầu bên được ủy quyền báo cáo kết quả, còn bên được ủy quyền có quyền thực hiện công việc và nhận thù lao (nếu có). Thời hạn ủy quyền có thể được xác định hoặc không, tuỳ theo thỏa thuận của các bên. Hình thức của hợp đồng thường là bằng văn bản để đảm bảo an toàn pháp lý.

2.1. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng ủy quyền

Bên ủy quyền có quyền yêu cầu báo cáo kết quả công việc, yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu bên được ủy quyền vi phạm, và có quyền chấm dứt hợp đồng bất kỳ lúc nào. Bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc đúng hướng dẫn, báo cáo định kỳ, và chịu trách nhiệm về những sai sót.

2.2. Thời hạn và chấm dứt hợp đồng ủy quyền

Thời hạn ủy quyền có thể được xác định cụ thể hoặc không xác định, phụ thuộc vào thoả thuận. Chấm dứt hợp đồng có thể xảy ra do: hết thời hạn ủy quyền, bên ủy quyền đơn phương chấm dứt, bên được ủy quyền từ chối, hoặc khi chủ thể không còn năng lực pháp lý.

III. Thực tiễn áp dụng hợp đồng ủy quyền tại Việt Nam

Trong thực tế giao dịch dân sự tại Việt Nam, hợp đồng ủy quyền được áp dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Đặc biệt, trong các giao dịch liên quan đến bất động sản, giao dịch tài chính, và quản lý tài sản, hợp đồng ủy quyền đóng vai trò không thể thiếu. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng, các tranh chấp về hợp đồng ủy quyền thường phát sinh khi bên được ủy quyền không thực hiện đúng theo chỉ dẫn của bên ủy quyền hoặc không báo cáo kết quả công việc. Các cơ quan tư pháp như tòa án thường xuyên phải giải quyết những tranh chấp này dựa trên các quy định của Bộ luật Dân sự. Qua thực tiễn, người ta nhận thấy cần phải hoàn thiện các quy định pháp luật để bảo vệ quyền lợi của cả hai bên.

3.1. Những vấn đề thường gặp trong áp dụng hợp đồng ủy quyền

Tranh chấp thường gặp bao gồm: bên được ủy quyền không thực hiện đúng quy định, vượt quá phạm vi ủy quyền, hoặc không báo cáo kết quả công việc. Ngoài ra, vấn đề về chứng minh năng lực của bên được ủy quyền cũng gây khó khăn trong giải quyết tranh chấp.

3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về hợp đồng ủy quyền

Cần rõ ràng hơn các quy định về phạm vi ủy quyền, bổ sung quy định về trách nhiệm pháp lý của bên được ủy quyền, và cải thiện quy trình giải quyết tranh chấp. Ngoài ra, nên quy định cụ thể về hình thức chứng minh ủy quyền để tránh tranh chấp.

IV. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật dân sự về hợp đồng ủy quyền

Dựa trên thực tiễn áp dụng và những hạn chế hiện tại, cần có những kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật dân sự Việt Nam về hợp đồng ủy quyền. Thứ nhất, cần bổ sung các quy định chi tiết về ủy quyền lại, đặc biệt là trường hợp bên được ủy quyền giao phó công việc cho người thứ ba. Thứ hai, cần rõ ràng hóa các trường hợp chấm dứt hợp đồng ủy quyền, nhất là khi bên ủy quyền tử vong hoặc mất năng lực. Thứ ba, nên bổ sung các quy định về bảo vệ quyền lợi của bên được ủy quyền, đặc biệt là quyền nhận thù lao và bảo hiểm. Cuối cùng, cần cải thiện các quy trình giải quyết tranh chấp liên quan đến hợp đồng ủy quyền để nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên.

4.1. Kiến nghị về ủy quyền lại và phạm vi ủy quyền

Cần quy định rõ ràng về ủy quyền lại, bao gồm trường hợp nào được phép ủy quyền lại và những hạn chế. Hợp đồng ủy quyền nên quy định cụ thể phạm vi công việc để tránh bên được ủy quyền vượt quá thẩm quyền.

4.2. Kiến nghị về chế độ bảo vệ quyền lợi của các bên

Nên bổ sung quy định về bảo hiểm trách nhiệm của bên được ủy quyền, quy định cụ thể về thù laochi phí liên quan. Cần cơ chế bảo vệ khi hợp đồng ủy quyền chấm dứt để bên được ủy quyền không bị thiệt thòi.

11/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 Hợp đồng uy quyén là phương tiện pháp ly quan trọng giúp bên được ủy quyền thực hiện quyền đại điện cho bên ủy quyền. Xuất phát từ việc hiểu thế nào là ủy quyền cũng như hợp đồng, tác giả trình bày những tìm hiểu về hợp đồng ủy quyền. Từ đó khái quát nên khái niệm hợp đồng ủy quyền, cụ thể: Hợp đồng ủy quyền là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó một bên giao cho bên kia thực hiện một hoặc một số công việc mang tính pháp lý. Bên được ủy quyền nhân danh bên ủy quyền thực hiện các quyền và nghĩa vụ của bên ủy quyén hoặc thực hiện các công việc khác trong phạm vi ủy quyền, vì quyền và lợi ích hợp pháp của bên ủy quyền.

Ngoài những đặc điểm chung của hợp đồng dân sự, hợp đồng ủy quyền còn mang những đặc điểm riêng làm nên nét đặc trưng của hợp đồng uy quyén đó là: Công việc là đối tượng của hợp đồng ủy quyền luôn là công việc mang tính chất pháp lý, hợp đồng ủy quyền là hợp đồng song vụ và hợp đồng ủy quyền có thê là hợp đồng có đền bù cũng có thể là hợp đồng không có đền bù. Tại Việt Nam, hợp đồng ủy quyền được ra đời từ các Bộ luật dân sự cé nhất của Việt Nam là Bộ luật Hồng Đức và Bộ luật Gia Long, sau đó được xây dựng cu thể và hoàn thiện theo thời gian trong các Bộ luật dân sự thời Pháp thuộc, rồi đến các Bộ luật dân sự do nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành. Ngay tir khi mới xuất hiện, hợp đồng uy quyén da khang định được vai trò không thể thiếu của mình trong đời sống của con người. Với sự phát triển của xã hội hiện nay, hợp đồng ủy quyền ngày càng chiếm vị trí và đóng vai trò quan trọng.

Không những hợp đồng ủy quyền đóng vai trò truyền thống là phương tiện để mọi người giúp đỡ, tương trợ nhau, mà ngày nay, hợp đồng ủy quyền còn là phương tiện không thé thiếu dé các chủ thé thực hiện việc đại diện như một nghề chuyên nghiệp. Vi vậy, vai trò và ý nghĩa của hợp đồng ủy quyền trên thực tế là vô cùng to lớn, quan trọng và không thé phủ nhận. 16 CHƯƠNG 2 THUC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT DAN SỰ HIEN HANH VE HỢP DONG UY QUYEN 2.1 Thực trạng quy định của pháp luật dân sự về hợp đồng uỷ quyền 2. Chủ thé của hợp đồng ủy quyền Hợp đồng ủy quyền được giao kết giữa một bên là người có nhu cầu thông qua người khác để thực hiện một hoặc một số công việc nhất định (sau đây gọi là bên ủy quyền) với một bên là người đồng ý thực hiện công việc đó (sau đây gọi là bên được ủy quyên), ngoài ra còn tồn tại mối quan hệ giữa bên được ủy quyền và bên thứ ba.

Chủ thể hợp đồng ủy quyền cũng giống các loại hợp đồng khác, chủ thé trong hợp đồng cần bắt buộc phải có năng lực hành vi dan sự và năng lực pháp luật đân sự. Và theo Điều 13§ BLDS 2015, các chủ thể có thể tồn tại đưới dạng cá nhân, pháp nhân, các thành viên hộ gia đình, tô hợp tác,. Đối với cá nhân, dé tham gia vào giao dich dân sự nói chung và tham gia vào hợp đồng ủy quyền nói riêng thì cần bắt buộc phải có năng lực hành vi dan sự và năng lực pháp luật dân sự. Năng lực pháp luật dân sự là khả năng của cá nhân đó có quyền dân sự và có nghĩa vụ dân sự.

Năng lực hành vi dân sự là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự đó. Tóm lại cá nhân tham gia vào hợp đồng ủy quyền cần phải đáp ứng các điều kiện là người không bị mất năng lực hành vi dân sự, không có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, không phải người bị hạn chế năng lực hành vi và là người đã thành niên thì mới có thế là chủ thể của hợp đồng ủy quyền. Tuy nhiên trong phạm trù ủy quyền, cần phải lưu ý về điều kiện cá nhân tham gia với tư cách chú thê trong hợp đồng là người đã thành niên. Cụ thê như sau: đầu tiên người đã thành nién theo pháp luật dân sự hiện hành được hiểu là người từ đủ mười tam tuổi trở lên, nhưng theo Khoản 3 Điều 138 BLDS 2015 quy định: “Người nr di mười lam tuổi đến chưa đủ mười tam tuổi có thé là người đại điện theo wy quyén, trừ trường hợp pháp luật quy định giao dich dân sự phải do người tir di mười tam tuổi trở lên xác lập, thực hiện”.

Như vậy, người chưa thành niên nhưng từ đủ mười lam tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi và đáp ứng đủ các điều kiện còn lại đã được nêu ở đoạn trên vẫn có thé là chủ thé trong hợp đồng ủy quyền ngoại trừ một số trường hợp pháp luật quy định giao dich dich dân sự phải là người từ đủ mười tám tuổi trở lên thực hiện, có thể lây ví dụ trong hợp đồng mua bán nhà ở thì bên được ủy quyền phải là người từ đủ mười tám tuổi trở lên và các điều kiện còn lại thì mới có thể thực hiện, giao kết hợp đồng. 17 Đối với pháp nhân, đây là một t6 chức được thành lập bởi cá nhân hoặc bởi chính một pháp nhân khác. Các điều kiện bắt buộc để được công nhận là một pháp nhân bao gồm: Được thành lập theo quy định của BLDS 2015 và luật khác có liên quan, có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của BLDS 2015, có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình, nhân danh minh tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập. Pháp nhân khi la chủ thể của hợp đồng ủy quyền cũng phải đáp ứng đầy đủ về mặt năng lực chủ thể theo quy định của pháp luật.

Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân cũng giỗng như đối với cá nhân, là tổng hợp những quyên và nghĩa vụ dân sự. Tuy nhiên những van đề này không được quy định một cách cụ thể trong BLDS mà được quy định tại các văn bản pháp luật chuyên biệt (ví dụ Luật Doanh nghiệp 2020 và các văn bản hướng dẫn thi hành) và ngoài ra còn được quy định trong quyết định thành lập và Điều lệ của pháp nhân. Mặc dù BLDS không đề cập tới năng lực hành vi của pháp nhân nhưng có thé hiểu năng lực hành vi của pháp nhân đo người đại diện thực hiện phát sinh, cham dứt cùng thời điểm phát sinh, cham dirt năng lực pháp luật, tức là năng lực hành vi tồn tại tương ứng với năng lực pháp luật. Đây là điểm khác với năng lực chủ thể của cá nhân, năng lực hành vi của cá nhân không phát sinh đồng thời với năng lực pháp luật mà phụ thuộc vào hai yêu tố.

Độ tuổi và khả nang nhận thức, điều khiến hành vi của từng cá nhân cụ thể. Ngoài cá nhân và pháp nhân như đã phân tích ở trên, chủ thé của hợp đồng ủy quyền còn có thể là cá nhân hoặc pháp nhân đại diện cho các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân. Quy định trên nhằm để các chủ thể không có tư cách pháp nhân hoặc nhóm người có thể tham gia vào các giao dịch dân sự đáp ứng các nhu cầu của các chủ thé đó. Bên ủy quyền Bên ủy quyền là bên có nhu cầu thực hiện một hoặc một số công việc hay có nhu cầu tham gia vào các giao dịch nhưng không tự mình thực hiện công việc đó hoặc thay rang nếu tự thực hiện thi hiệu quả công việc không cao nên ủy quyền cho chủ thé khác phù hợp thay mình thực hiện công việc này.

Vi dụ: Duong sự trong các vụ án dân sự ủy quyền cho Luật sư tham gia tố tụng tại Tòa án. Pháp luật không quy định cụ thể về năng lực hành vi dân sự của bên ủy quyền. Nhưng như đã trình bày ở trên, vì hợp đồng ủy quyền là một giao dich dan sự và là một loại hợp đồng nói chung vì vậy các bên tham gia hợp đồng uy quyén phải có năng lực hành vi chu thé khi xác lập hợp đồng ủy quyên. Nếu bên uy quyén là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự va năng lực pháp luật dân sự.

Nếu là pháp nhân thì phải đáp ứng các điều kiện về mặt tổ chức và người trực tiếp giao 18 kết hợp đồng dân sự phải là người đại diện theo pháp luật của pháp nhân hoặc là người đại điện theo ủy quyền của pháp nhân đó. Và đối với trường hợp này người đại diện của pháp nhân chỉ được ủy quyền các công việc thuộc phạm vi thâm quyền đại diện theo quy định của pháp luật. Ngoài ra cần phải lưu ý rằng, việc tồn tại người đại điện cho pháp nhân trực tiếp giao kết hợp đồng không có nghĩa là việc ủy quyền của pháp nhân cho một người khác thực hiện công việc thay pháp nhân là ủy quyền gián tiếp. Boi quan hệ ủy quyền này không phải phát sinh giữa người ký văn bản ủy quyền này với người được ủy quyền mà phát sinh giữa pháp nhân với người được ủy quyền sau này, người được đứng ra giao kết hợp đồng ủy quyền chỉ là người đại điện cho pháp nhân, vì thế người ký văn bản ủy quyền không có tư cách là bên ủy quyền mà chỉ có tư cách là người đại diện cho bên ủy quyên.

Bản chất của ủy quyền là việc bên được ủy quyền thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền. Vì vậy, những công việc mà bên ủy quyền cho bên được ủy quyền thì bên ủy quyền phải có kha năng và phải được phép làm, rõ ràng hon là bên úy quyền phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi để thực hiện được công việc này và đồng thời bên ủy quyền phải được phép thực hiện công việc đó. Đối với pháp nhân và các chủ thể khác thì công việc ủy quyền phải trong phạm vi chức năng nhiệm vụ của pháp nhân và của các chú thể khác. Pháp nhân là chú thể do con người sáng tạo ra để tham gia vào các giao dịch, năng lực pháp luật của pháp nhân có từ khi pháp nhân được hình thành và luôn được coi là day dt khi tham gia với tư cách là một bên trong hợp đồng nói riêng và các giao dịch khác nói chung.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ