Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VÔ HIỆU 1. KHÁI NIỆM HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VÔ HIỆU 1. Khái niệm hợp đồng dân sự và sự tác động của hợp đồng dân sự trong quan hệ pháp luật dân sự 1. Khái niệm hợp đồng dân sự Việc điều chỉnh bằng quan hệ xã hội bằng hợp đồng đã được áp dụng từ lâu và được hoàn thiện hơn khi Việt Nam xây dựng đất nước nhất là phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cho nên chế định hợp đồng được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau.
Theo Geoffrey Samuel: Khái niệm hợp đồng trong hệ thống Civil Law bị chi phối bởi ba nguyên tắc: (1) hợp đồng được xem là kết quả chung của sự gặp gỡ ý chí của các bên; (2) pháp luật do các bên lập ra để ràng buộc chính các bên trong hợp đồng. Vì sự ràng buộc của hợp đồng không chỉ là hiệu lực pháp lý được dự liệu bởi các bên, mà đó còn là hiệu lực được đảm bảo bởi pháp luật, bởi tập quán hoặc bởi yêu cầu của nguyên tắc thiện chí, nhằm xác lập trách nhiệm thực thi hợp đồng phù hợp với bản chất của hợp đồng; (3) tự do hợp đồng: các bên được tự do, trong phạm vi giới hạn của luật công và trật tự công cộng, để tạo ra loại hợp đồng mà họ muốn, thậm chí điều đó có thể là vô lý theo cách nhìn nhận của người khác [63]. Theo hệ thống pháp luật Common Law thì hợp đồng được coi là cam kết đơn giản, thể hiện bằng những hành vi pháp lý cụ thể của mỗi bên và sau này, các "thẩm phán theo chủ nghĩa thực dụng (pragmatic) ở Anh đã xem xét hợp đồng như là một nghĩa vụ được tạo ra bởi sự gặp gỡ ý chí giữa các bên" [63]. Tại Việt Nam, hợp đồng được xem xét dưới hai phương diện: khách quan và 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chủ quan.
Theo phương diện khách quan, HĐDS là một bộ phận các quy phạm pháp luật được quy định cụ thể trong Bộ luật Dân sự (BLDS), thể hiện thừa nhận, yêu cầu của Nhà nước đối với giao lưu dân sự, thể hiện ý chí của Nhà nước, "nhằm điều chỉnh quan hệ xã hội (chủ yếu là quan hệ tài sản) trong quá trình dịch chuyển lợi ích vật chất giữa các chủ thể với nhau" [36]. Theo phương diện chủ quan thì HĐDS là kết quả của sự thỏa thuận, thống nhất ý chí của các bên chủ thể nhằm mục đích "… xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự" [56] được thỏa thuận cụ thể của mỗi bên để có cơ sở cùng nhau thực hiện. Luật Hợp đồng Trung Quốc quy định: Hợp đồng theo quy định của Luật này là sự thỏa thuận về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự giữa các chủ thể bình đẳng tự nhiên nhân, các tổ chức khác. Các thỏa thuận liên quan đến quan hệ hôn nhân, nhận con nuôi, giám hộ… thích dụng với quy định của các luật khác [53].
Hay theo PLDS của nước Nga "Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự" [57]. Hoặc như ghi nhận tại PLDS Canada thì "Hợp đồng dân sự là sự thống nhất ý chí, theo đó một hoặc nhiều chủ thể phải thực hiện những cam kết đã định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác" [55]. Như vậy về bản chất HĐDS được tạo ra bởi sự thỏa thuận của các bên, là kết quả của quá trình đàm phán, thương lượng thống nhất ý chí giữa các bên để làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ đối với nhau, trừ những quyền, nghĩa vụ mà pháp luật quy định không thể thay đổi hoặc chấm dứt bằng sự thỏa thuận của các bên. Và theo các nhà soạn thảo quy định của luật dân sự Việt Nam định nghĩa "Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự" [28, Điều 388] là sự hợp lý tất yếu và thuyết phục, có tính khái quát cao, phản ánh đúng bản chất quan hệ dân sự.
15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Sự tác động của hợp đồng dân sự trong mối quan hệ pháp luật dân sự - Quan hệ PLDS Trong quan hệ PLDS có sự tham gia của các chủ thể mang quyền, nghĩa vụ nhất định. Chủ thể quan hệ PLDS bao gồm: cá nhân (công dân Việt Nam, người nước ngoài, người không quốc tịch), pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (chủ thể đặc biệt). Tham gia trong quan hệ này ít nhất là có hai bên: một bên có quyền và một bên có nghĩa vụ, các quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể có tính chất tương xứng và đối lập nhau, nhằm hướng tới khách thể nhất định.
Khách thể là một trong các yếu tố cấu thành quan hệ pháp luật nói chung và quan hệ PLDS nói riêng. Khách thể chính là "cái" mà các chủ thể hướng tới. Chẳng hạn trong quan hệ pháp luật về quyền sở hữu thì khách thể là tài sản, trong quan hệ nhân thân là các giá trị nhân thân… Do vậy nội dung của quan hệ PLDS chính là tổng hợp các quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự của chủ thể trong một quan hệ PLDS cụ thể. Tuy nhiên, để đảm bảo và kết nối lợi ích, cũng như quyền của chủ thể trong quan hệ hay giá trị các bên chủ thể hướng tới thì cần phải có một biện pháp ghi nhận lại sự thể hiện, giao kết giữa các bên trong quan hệ.
- Sự tác động của HĐDS trong mối quan hệ PLDS Thứ nhất, trong giao dịch dân sự mỗi bên đều hướng tới mục đích, lợi ích riêng, và hợp đồng là kết quả của sự dung hòa các lợi ích đối lập này. Tuy nhiên mục đích của hợp đồng luôn mang tính pháp lý - khách thể của quan hệ PLDS ("cái" mà các bên hướng tới trong quan hệ hợp đồng) chính là những hậu quả pháp lý: nhằm phát sinh, thay đổi chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự nhất định. Nếu đơn thuần chỉ là sự thỏa thuận giữa các bên không nhằm làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt bất kỳ một quyền hoặc nghĩa vụ dân sự cụ thể nào thì sẽ không hình thành nên quan hệ hợp đồng. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thứ hai, HĐDS là căn cứ chủ yếu phát sinh nghĩa vụ dân sự, ràng buộc trách nhiệm với các bên trong quan hệ PLDS, cũng như khi giải quyết tranh chấp giữa các bên.
BLDS 2005 định nghĩa: Nghĩa vụ dân sự là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc khác hoặc không thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền) [28, Điều 280]. HĐDS chính là nơi thể hiện và ghi nhận các bên trong quan hệ nghĩa vụ dân sự; một bên có quyền và một bên có nghĩa vụ gắn bó với nhau bởi các quy định trong từng điều khoản cụ thể của hợp đồng phát sinh theo quy phạm của pháp luật. Thứ ba, trong quan hệ PLDS, các bên chủ thể luôn hướng tới một mục đích nhất định để đạt được. Mục đích này được mỗi bên xây dựng và thỏa thuận thống nhất với nhau bằng văn bản, ràng buộc bởi quy định cụ thể.
Quyền của chủ thể này tương ứng với nghĩa vụ của chủ thể kia. Mỗi bên tham gia trong hợp đồng đều chịu sự điều chỉnh bởi quy định đã được đặt ra dựa trên ý chí chung xác lập. Bất kỳ chủ thể nào nếu thực hiện trái với sự ghi nhận đó đều phải chịu trách nhiệm đối với hành vi của mình. Các bên chủ thể phải tuân thủ và thực hiện cho đến thời điểm chấm dứt nghĩa vụ tương ứng của mỗi bên.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng, mỗi bên đều có thể thay đổi nội dung trong hợp đồng trên cơ sở thỏa thuận 1. Hiệu lực của hợp đồng dân sự và việc vô hiệu của hợp đồng dân sự 1.1 Hiệu lực của hợp đồng dân sự - Khái niệm hiệu lực của hợp đồng dân sự Theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học thì "hiệu lực của hợp đồng dân sự" là "giá trị bắt buộc thi hành đối với các chủ thể tham gia giao kết hợp 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đồng" [37], và như vậy chủ thể giao kết hợp đồng hoặc chủ thể thực hiện hợp đồng chưa chắc là chủ thể của hợp đồng đó. Bộ Dân luật Bắc Kỳ năm 1931 và Bộ Dân luật Trung Kỳ năm 1936 cũng có đề cập đến hiệu lực của hợp đồng, theo đó "các hợp ước được kết lập cũng có hiệu lực như luật pháp đối với các bên kết ước" [2, Điều 673]. Hoặc tại Bộ Dân luật Sài Gòn năm 1972 quy định về hiệu lực của khế ước, theo đó có giá trị là luật với các bên, chỉ có thể hủy bỏ trên cơ sở thỏa thuận chung hoặc theo những căn cứ do pháp luật quy định [4, Điều 713].
Như vậy các bên không thể hủy bỏ hợp đồng nếu không dựa trên ý chí tự nguyện của tất cả các bên tham gia trong quan hệ hoặc có những căn cứ khác do pháp luật quy định dẫn chiếu đến. Điều này được kề thừa và ghi nhận tại Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991: "Hợp đồng dân sự chỉ được sửa đổi, chấm dứt theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật" [51, Điều 8]. Bên cạnh đó BLDS năm 1995 lại quy định về hiệu lực hợp đồng như sau: "1. Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực bắt buộc đối với các bên; 2.
Hợp đồng chỉ có thể bị sửa đổi hoặc hủy bỏ, nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định…" [26, Điều 404]. Đến BLDS 2005 thì không quy định một cách cụ thể về hiệu lực hợp đồng mà chỉ quy định khái quát "hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác" [28, Điều 405], đã thể hiện rõ bản chất của khái niệm hợp đồng; có sự kết thừa và phát huy từ những quy định trước đó về hiệu lực hợp đồng.