Chương 1 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VÀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ CÓ ĐIỀU KIỆN 1. Khái niệm hợp đồng dân sự Hợp đồng được coi là một trong những chế định pháp lí cổ xưa nhất, đối với giới luật gia, hợp đồng là một trong những khái niệm trung tâm của luật dân sự, một trong những đối tượng điều chỉnh của khoa học pháp lí. Ở những nước Châu Âu bộ môn lí thuyết về hợp đồng đã có bề dày lịch sử hàng ngàn năm nhưng ở Việt Nam cho đến những năm cuối của thế kỷ XIX và những năm đầu của thế kỷ XX thì thuật ngữ "khế ước" hay " hợp đồng" mới bắt đầu được ghi nhận trong các văn bản pháp luật của nhà nước. Trước tiên phải kể đến Bộ dân luật giản yếu Nam Kỳ (1883); Bộ dân luật Bắc Kỳ (1931) và Bộ dân luật Trung Kỳ (1936).
Vậy hợp đồng trong Bộ luật dân sự được hình thành từ đâu? Chúng ta hãy xem xét sự hình thành và phát triển của hợp đồng trên thế giới và tại Việt Nam. Trong lịch sử văn minh thế giới, sự hình thành chế định hợp đồng gần như xuất hiện cùng các nhu cầu giao lưu mang tính tài sản trong xã hội. Trước hết và quan trọng nhất là nhu cầu giao lưu giữa mọi người với nhau nhằm hướng tới một kết quả vật chất nhất định phù hợp với lợi ích của tất cả các bên. Theo thời gian do sự phát triển mạnh mẽ và đa dạng các hình thức giao lưu đó, một nhu cầu mới nảy sinh đó là nhu cầu cần thiết phải có các mô hình xử sự chung do nhà nước quy định để các bên tùy ý lựa chọn hoặc có thể do chính các bên tự thiết lập.
Các mô hình xử sự đó được pháp luật định danh với tên gọi "khế ước" hay "hợp đồng". Ở Châu Âu, sự khởi đầu của chế định hợp đồng gắn liền với Luật La Mã cổ đại. Ngày từ thế kỷ V - IV trước Công nguyên, người La Mã đã biết 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đến và xây dựng hệ thống những thuật ngữ, khái niệm, phạm trù pháp lý có giá trị phổ biến toàn nhân loại về các vấn đề cơ bản nhất của chế định hợp đồng như: hợp đồng (contractus), và mục đích, căn cứ hợp đồng (causa), hợp đồng miệng và hợp đồng viết, hợp đồng thực tế và hợp đồng ưng thuận (res và consensus), ý chí và thể hiện ý chí (id quod actum est và id quod dictum est)… Nó đã thật sự là khuôn mẫu để điều chỉnh toàn diện những quan hệ hợp đồng theo quan điểm hiện nay và nhờ vào những giá trị phổ biến mang tính thời đại ấy mà chế định hợp đồng khởi nguồn từ Luật La Mã đã được du nhập một cách tự giác vào Châu Âu cùng với phong trào Phục Hưng diễn ra vào thế kỷ XII- XIII và sau đó phát triển mạnh mẽ tại lãnh thổ nhiều nước như: Pháp, Đức, Hà Lan. Đến thể kỷ XVIII, XIX, XX, với sự tỏa sáng của ngành khoa học pháp lý có hàng ngàn năm bề dày lịch sử và do tác động của sự phát triển các quan hệ kinh tế - xã hội, chế định hợp đồng đã lần lượt được các nước Châu Âu pháp điển hóa khi xây dựng những Bộ luật dân sự đầu tiên của mình.
Chính vì vậy khi bàn đến xu hướng phát triển của luật dân sự, một nhà triết học và xã hội học nổi tiếng người Pháp đã dự đoán "hợp đồng chiếm 9/10 dung lượng các bộ luật dân sự hiện hành và đến một lúc nào đó tất cả các điều khoản của bộ luật, từ điều khoản thứ nhất đến điều khoản cuối cùng đều quy định về hợp đồng" [Dẫn theo 11]. Khác với những gì diễn ra ở Châu Âu, sự hình thành và phát triển pháp luật hợp đồng ở Việt Nam cho đến thế kỷ XIX chưa thật sự tồn tại theo đúng nghĩa khoa học của thuật ngữ này. Chúng ta hãy cùng xem xét lịch sử pháp luật hợp đồng tại Việt Nam để thấy được sự khác biệt. Trong suốt quá trình phát triển lịch sử của mình, xã hội phong kiến Việt Nam trên nhiều phương diện được xây dựng rập khuôn theo mô hình của xã hội phong kiến Trung Quốc.
Các triều đại phong kiến Việt Nam luôn dựa vào Nho giáo như một hệ tư tưởng chính thống để xây dựng và quản lý xã hội. Ý muốn đặt mình vào hệ thống và đạo lý Nho giáo được biểu hiện rõ nét 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong những cố gắng của các triều đại phong kiến nhằm duy trì một xã hội ổn định với 4 tầng lớp (tứ dân) từ cao đến thấp: sĩ, nông, công, thương. Các hoạt động luôn bị kìm hãm bởi chính sách " ức thương" chủ yếu mang tính tự cung, tự cấp. Tình trạng đó tồn tại trong suốt một thời kỳ dài cho đến những năm cuối của triều đình nhà Nguyễn - triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam.
Chính vì lẽ đó mà quan hệ hợp đồng ở thời kỳ đầu của xã hội phong kiến không có cơ hội phát triển, một sự cách tân hay cải cách thực sự. Về phía người dân là thái độ thờ ơ, không coi trọng pháp luật. Cuối thế kỷ XVII, đại đa số dân cư rất nghèo và điều này có thể hiểu được nếu nhìn vào nền thương mại ở Việt Nam thời đó. Nền thương mại biển rất yếu và gần như không tồn tại, ngoại trừ sự giao thương của một vài loại lương thực và thực phẩm như gạo và cá.
Nền thương mại chính của đất nước lại do người Trung Hoa, người Anh, Hà Lan và những thương nhân ngoại quốc khác nắm giữ - những người đặt thương điếm cư trú tại Đàng Ngoài buôn bán theo mùa. Người Việt Nam bị nghiêm cấm không được buôn bán ở Trung Hoa. Tất nhiên, đó không phải là nguyên nhân quan trọng nhất cản trở sự phát triển của chế định hợp đồng ở Việt Nam bên thềm thế kỷ XX. Một nguyên nhân quan trọng là thái độ của người dân đối với pháp luật.
Khác với những nước phương Tây và những nước Châu Á khác, pháp luật thành văn ở Việt Nam còn xa lạ với nhận thức của người dân và chủ yếu là luật hành chính, luật hình sự, luật tư thành văn tuy có nhưng chỉ đóng vai trò không đáng kể. Ngay cả đến bộ luật nổi tiếng dưới thời vua Lê Thánh Tông là Quốc Triều Hình Luật các quan hệ liên quan đến sinh hoạt, cuộc sống hàng ngày của người dân đều được bảo vệ bằng các chế định nặng nề vẫn được gọi là Ngũ hình. Mặt khác, đông đảo dân cư chỉ sống theo phong tục, tập quán của mình với tư tưởng "phép vua thua lệ làng". Nguyên nhân là do nền kinh tế - xã hội của nước ta trong thời kỳ đó kém phát triển, kinh tế nông nghiệp là chính, công thương nghiệp kém phát triển nên yêu cầu đòi hỏi phải 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com có một hệ thống pháp luật đa dạng phong phú và tương đối hoàn chỉnh với nhiều chuyên ngành khác nhau để điều chỉnh nhiều lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là các quan hệ kinh tế không xuất hiện rõ nét, tất cả các quan hệ trong đời sống xã hội đều quy định trong một bộ luật, còn lại do các quy phạm thuộc các lĩnh vực khác điều chỉnh như đạo đức, tập quán.
Chính thái độ thiếu quan tâm đến pháp luật cùng với sự hạn chế về điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội lúc bấy giờ giúp ta lý giải tại sao chúng ta không tìm thấy thuật ngữ "hợp đồng" hay một thuật ngữ nào tương đương trong bất kì một văn bản chính thức nào của nhà nước phong kiến. Ngay trong các bộ cổ luật được đánh giá như là đỉnh cao của thành tựu lập pháp phong kiến như Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật Gia Long, khái niệm hợp đồng hay khế ước với tư cách là một thuật ngữ pháp lý độc lập và hoàn chỉnh hầu như không được biết đến. Chế định hợp đồng chỉ được biểu hiện không thật rõ nét qua các tình huống mua bán cụ thể như: việc mua bán, thuê mướn, vay nợ, cầm cố, bảo lãnh… không có tính khái quát cao và không thể áp dụng chung cho mọi trường hợp. Các bộ cổ luật còn chứa đựng nhiều các quy định mang tính chất bất bình đẳng trong giao lưu dân sự, các chế tài vi phạm khế ước còn mang nặng tính chất pháp luật hình sự, không phù hợp với bản chất của các quan hệ dân sự.
Tình hình trên đã có sự thay đổi rõ nét kể từ khi người Pháp đặt chân vào Việt Nam mang theo một nền khoa học pháp lý khác biệt, rộng lớn và đang trên đà phát triển rực rỡ. Dựa trên thành quả của hệ thống pháp luật La Mã cổ đại vốn đã rất phát triển về lĩnh vực luật tư, người Pháp đã phát triển thành nhiều chuyên ngành khoa học pháp lý riêng với nhiều đạo luật cụ thể, mà nổi tiếng nhất chính là Bộ luật dân sự Pháp năm 1804. Do đó ngay sau khi xác lập sự thống trị của mình ở Việt Nam, người Pháp đã đem ngay các kết quả đó áp dụng vào tình hình thực tế của Việt Nam rồi từ đó ban hành ra ba bộ dân luật riêng biệt áp dụng cho ba xứ với ba chế độ cai trị khác nhau đó là: Bộ dân luật giản yếu ban hành năm 1883 áp dụng cho xứ thuộc địa 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nam Kỳ và ba khu vực nhượng địa là Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng; Bộ dân luật Bắc Kỳ năm 1931 áp dụng cho xứ Bắc Kỳ và Bộ dân luật Trung Kỳ ban hành năm 1936 áp dụng cho Trung phần. Về cơ bản ba bộ luật đã căn cứ trên Bộ luật dân sự Pháp 1804 có tính đến điều kiện đặc thù ở Việt Nam, do vậy nó đã được áp dụng tại Việt Nam kể cả sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 với việc thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, xây dựng nền độc lập tự chủ toàn vẹn cho tới những năm 1960 và năm 1972 ở miền Nam dưới chính thể Việt Nam cộng hòa mới bị bãi bỏ.
Nền luật pháp ấy như đánh giá của GS.TS Phạm Duy Nghĩa chỉ như: 80 năm trôi qua như một cơn mưa bụi, nền dân luật thực dân tan rã, mà dường như chẳng để lại một di sản đáng kể nào trong nền quan chế và tâm thức người dân nước ta bởi những bộ luật dân sự và thương sự đó, những hệ thống Tòa án chủ yếu bảo vệ thương nhân và lợi ích của nước Pháp, chứ không hề khuếch trương nền kỹ nghệ của xứ thuộc địa.