Chương 1: Cơ sở lí luận về quản lí hoạt động học tập của sinh viên ngành Sư phạm ở trường đại học. Chương 2: Thực trang quản lí hoạt động học tập của sinh viên ngành Sư. phạm Ngữ văn ở Trường Đại học Đồng Tháp. Chương 3: Biện pháp quan lí hoạt động học tập của sinh viên ngành Sư.
phạm Ngữ văn ở Trường Đại học Đồng Tháp. CHUONG 1 CƠ SỞ LÍ LUAN VE QUAN LÍ HOAT DONG HOC TAP CỦA SINH VIÊN NGÀNH SƯ PHẠM Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. TONG QUAN VE VAN DE NGHIEN CUU 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Hoạt động giáo dục nói chung, dạy học nói riêng luôn là vẫn để được tắt cả các quốc gia ưu tiên hàng đầu, với mục đích là truyền lại cho thể hệ sau những kiến thức, kinh nghiệm của người đi trước nhằm tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng góp phân vào việc xây dựng đất nước.
Ở các trường Đại học, một trong những hoạt động đặc trưng nhất là hoạt động dạy học, bao gôm hoạt động dạy của GV và hoạt đông học của SV, Việc xã hội hóa cá nhân luôn được coi là thuộc tính chỉ riêng có của con. người nên suốt tiền trình lịch sử, theo đó hoạt động học tập luôn được các nhà triết học, nhà giáo dục, các nhà khoa học, nhà quản lí quan tâm đặc biệt. Vào thể ký thứ XVII, J.Komenski (1592 - 1670), là người đầu tiên đưa. ra kiến nghị đổi mới một cách sâu sắc quả trình dạy học nói chung và hình thức tổ chức dạy học nói riêng.
Hình thức tổ chức dạy học trên lớp do J1LA.Komenski để ra là một sáng kiển vĩ đại, có ý nghĩa lí luận và thực tiễn sâu sắc. Ngày nay, tư tưởng của ông vẻ chế độ dạy học theo lớp với hình thức tổ chức đạy học trên lớp nói riêng vẫn còn có ý nghĩa tích cực đối với lí luận dạy học hiện đại [28] Tư tưởng của J.Komenski đã được tiếp nỗi và phát triển bởi nhiều nhà SP lỗi lạc khác như: M.Rousseau, John Dewey.Rousseau (1712 — 1778), nhà sư phạm. người Pháp, cần phải chuẩn bị thiếu niên tham gia đời sống xã hội, sự chuẩn l3 bị nảy cần được thực hiện ở đời sống xã hội trên cơ sở chú ý đây đú đến “sự tự đo” của đứa trẻ [28]. John Dewey (1859 - 1925), nha su phạm người Mỹ nỗi tiếng đầu thế ký XX đã đưa ra một phương hướng canh tân giáo dục, ông yêu cầu bé sung vào.
vốn trí thức của học sinh những tri thức ngoài sách giáo khoa và lời giảng của giáo viên, đề cao hoạt động đa dạng của học sinh, đặc biệt là hoạt động thực tiễn. Ông viết: “Học sinh là mặt trời, xung quanh nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục, nói không phải là dạy, nói ít hơn, chủ ý nhiều đến việc tô chức hoạt động của học sinh” [28]. Vào thập niên 30 của thể ky XX, nha giáo dục nối tiếng Nhật Bản Tsunesaburo Makiguchi (1871 - 1944), đã nhấn mạnh: “Giáo viên không bao giờ học thay cho học sinh mà phải tự mình học lấy. Nói khác đi, dù giáo viên có làm gì đi nữa thì mọi tri thức truyền thụ vẫn không có giá trị nếu họ không làm cho học sinh tự mình kiểm nghiệm và thực nghiệm những tri thức đó” [28].
Năm 1996, dựa trên báo cáo của Hội đồng Delors, UNESCO da khing định: giáo dục toàn thể giới trong thé ky XXI được xây dựng trên bỗn trụ cột, đó là “học để có kiến thức, học để làm việc, học để chung sống với nhau và học để làm người” [28]. Hoạt động học tập của HSSV cũng đã được nhiều nhà tâm lý học trên thể giới nghiên cứu để đưa ra những khái niệm và cơ chế của hoạt động học tập. Có thế kẻ ra những nhà tâm lý học tiêu biểu nghiên cứu về lĩnh vực này như: Pavlov, Watson, Thorndike, Skiner, J Piaget, Ghestalt, Benjamin Bloom, X. Hầu hết các nghiên cứu gần đây của các nhà giáo dục đều cho rằng: giáo.
dục ở thể kỷ XXI đã có những thay đối lớn nhằm hướng tới mục tiêu đảo tạo 14 những con người có năng lực tự quyết định. Trong tương lai gần, mỗi người học sẽ phải có đủ c phẩm chat: ti hoe (self learning), ur t6 chite (self organizing), tự quyết định (self defining) va tyr phat trién (self developing) [28]. Tình hình nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, nhiều nhả giáo dục đã tiễn hành nghiên cứu hoạt động học. tập của HSSV.
Trong đó, tập trung vào việc nghiên cứu phương pháp học tập hiệu quả, vị trí, vai trò, tâm quan trọng của hoạt động học tập và cách thức tiền hành hoạt động học để đạt kết quả. ~ Về hoạt động học tập của SV trong các trường đại học, cao đẳng có đề tài như: “Công tác quản lý hoạt động học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên Đại học Quốc gia thảnh phố Hồ Chí Minh” (năm 2006: Trường Đại học Su phạm TP. HCM ) của Đinh Ái Linh [19]; *Thực trạng quản lý học tập đối với sinh viên ngành tiêu học ở Trường Cao đẳng sư phạm Vĩnh Long” (năm 2005; Trường Đại học Sư phạm TP. HCM) của Trả Thị Quỳnh Mai [22]; “Một số biện pháp quản lý của Hiệu trưởng nhằm nâng cao năng lực tự học cho sinh viên Trường Cao đẳng sư phạm mẫu giáo Trung ương 3” (năm 2004; Trường Đại học Sư phạm TP.
HCM) của Phạm Thị Thu Thủy [35]; “Thực trạng quản lí hoạt động học tập của sinh viên ở trường đại học Yersin Da Lạt” (năm 2010; Trường Đại học Sư phạm TP. HCM) của Nguyễn Thanh Sơn [28]. ~ Về hoạt động học tập của học viên trong các trường quân sự có các đẻ tải như: “Các biện pháp quản lý hoạt động tự học của học viên trường Sĩ quan Lục quân 2” (năm 2007; Trường Đại học Sư phạm TP. HCM) của Tran Bá Khiêm [18].
~ Về hoạt động học tập của học sinh trung học phố thông có các để tài như: “Thực trạng quản lý của Hiệu trưởng nhằm nâng cao năng lực tự học cho học sinh Trung học cơ sở ở huyện Long Điển, tỉnh Bà Rịa - Vang Tau” 1S (năm 2008; Trường Đại học Sư phạm TP. HCM) của Đặng Ngọc Thái [33]; "Nghiên cứu sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc quản lý hoạt động học tập của học sinh các trường Trung học phổ thông tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu” (năm 2003; Trường Đại học Sư phạm TP. HCM) của Nguyễn Văn Trung [36]: “Một số biện pháp quân lí của Hiệu trưởng nhằm nâng cao chất lượng học tập cho học sinh trường THPT huyện Châu Thành A, tỉnh Cần Thơ” (năm 2003; Trường Đại học Sư phạm TP. HCM) của Trần Thị Tư [31].
Điểm qua các công trình nghiên cứu trên đây về hoạt động học tập của SV, cho thấy rằng: hoạt động học tập của SV đã có những cơ sở lí luận rất vững chắc. Tuy nhiên, những công trình đi sâu nghiên cứu về quản lí hoạt động học tập của SV ngành sư phạm ở trường đại học còn ít được chú trọng. và chưa có nhiều. Trong đó, công tác quản lí hoạt động học tập của SV ngành SP ở trường Đại học Đồng Tháp chưa có tác giả nào nghiên cứu.
Do đó, việc nghiên cứu để tài “Quản fí hoạt động học tập của sinh viên ngành Sư phạm Ngữ văn ở Trường Đại học Đồng Tháp” là mới mẽ, thật sự cần thiết và có giá trị thực tiễn cao, nhằm góp phân nâng cao hiệu quả quản lí hoạt động học tập của SV Trường Đại học Đông Tháp trước bỗi cảnh đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA ĐÈ TÀI 1. Khái niệm Sinh viên, Sinh viên ngành sư phạm và Sinh viên ngành sư phạm ở trường đại học 1. Sinh viên Thuật ngữ "sinh viên" có nguồn gốc từ tiếng La-tinh "Student" có nghĩa là người làm việc, học tập nhiệt tỉnh.
người đi tìm kiểm, khai thác tri thức. được dùng củng nghĩa tương đương với từ "Student" trong tiếng Anh, "Etudiant" trong tiếng Pháp và "Cmgenm" trong tiếng Nga. Thuật ngữ “sinh 16 viên” dùng để chỉ những người theo học trình độ đại học và cao đăng, phân biệt với học sinh đang theo học ở giáo dục phổ thông. Theo ngôn ngữ Hán Việt, từ "sinh viên" được diễn nghĩa ra là người bước vào cuộc sống, cuộc đời.
Cỏn theo Từ điển tiếng Việt, khái niệm sinh viên được dùng để chỉ người học ở bậc đại học. Theo Quy chế công tác Học. sinh Sinh viên trong các trường trực thuộc Bộ GD&ĐT thì: sinh viên là người đang theo học trình độ đại học và cao đẳng. Từ đó có thể hiểu: Thuật ngữ “sinh viên” dùng để chỉ những người dang theo học tại các trường đại học, cao đẳng - nơi đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của xã hội.
Sinh viên ngành Sự phạm Theo Từ điển Xã hội học, Sư phạm: là khoa học về giảng dạy và giáo. dục trong nhà trường. Sinh viên sư phạm: là người đang học trong các khoa Sư phạm, trường cao đẳng sư phạm hoặc trường đại học sư phạm để trớ thành giáo viên thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường và các cơ Sở giáo dục khác. Tir cach hiểu thuật ngữ sinh viên và sư phạm như trên, theo tac gia dé tai hiểu: Sinh viên ngành sư phạm là những người đang học tập và rèn luyện tại các trường đại học.
cao đẳng thuộc ngành sư phạm, nhằm lĩnh hội hệ thông trí thức, hình thành hành động và phẩm chất đạo đức đáp ứng với yêu câu nghệ giáo viên trong tương lai. Sinh viên ngành sư phạm ở trưởng đại học “Sinh viên ngành sư phạm ở trường đại học” là những người đang học tại khoa sư phạm hoặc là sinh viên thuộc các trường đại học sư pham dé tro thành giáo viên thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường và các cơ sở giáo dục khác [29]. Khái niệm Quản lí, Chức năng quản lí và Quản lí nhà trường 1. Quản lí Thuật ngữ “Quản lí” (tiếng việt gốc Hán) lột tả bản chất cũa hoạt động này.
trong thực tiễn. Nö gồm hai quả trình "Quản” và "Li” tích hợp vào nhau. Quá trình “Quản” là sự trông coi, chăm sóc, giữ gìn, duy trì ở trong thái ôn định; quá trình “LÍ” là sự sửa sang, sắp xếp, lâm cho nó phát triển. Như vậy “Quản lí” là sự trông coi, chăm sóc, sửa sang làm cho nó ổn định và phát triển.