CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ THEO DỰ ÁN CỦA DOANH NGHIỆP 1. Hoạt động đầu tư theo dự án của doanh nghiệp 1.1 Khái niệm đầu tư theo dự án của doanh nghiệp: Dự án đầu tư là tập hợp các hoạt động liên quan mật thiết với nhau về sử dụng các nguồn lực để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những đối tượng nhất định trên địa bàn cụ thể nhằm đạt được mục tiêu trong khoảng thời gian xác định. Đầu tư theo dự án là một hoạt động cốt lõi trong chiến lược phát triển của các doanh nghiệp, hoạt động trong môi trường kinh tế đầy biến động. Những yếu tố kinh tế vĩ mô không chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp mà còn có tác động sâu rộng tới các quyết định đầu tư theo dự án.
Đầu tư dự án được xem là công cụ quản lý hiệu quả việc sử dụng vốn, nguồn nhân lực và vật tư của doanh nghiệp để sinh ra các kết quả tài chính và đóng góp vào phát triển kinh tế - xã hội trong dài hạn. Mỗi dự án đầu tư không chỉ quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp mà còn có thể quyết định sự thành công hoặc thất bại của chính doanh nghiệp đó. Việc đầu tư hiệu quả vào các dự án phù hợp là yếu tố then chốt đảm bảo cho sự tồn tại và thịnh vượng lâu dài của doanh nghiệp trong một nền kinh tế ngày càng cạnh tranh. Doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế do đó các yếu tố của nền kinh tế không những là những nhân tố tác động trực tiếp đến doanh nghiệp mà còn tác động đến hoạt động đầu tư theo dự án của Doanh nghiệp.
Đầu tư dự án của doanh nghiệp là một hình thức phổ biến, là công cụ quản lý việc sử dụng vốn, vật tư, lao động của doanh nghiệp để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế xã hội trong một thời gian dài. Dự án đầu tư có tầm quan trọng đặc biệt với đối với từng doanh nghiệp nói riêng. Sự thành bại của một doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào việc đầu tư dự án có hiệu quả hay không. Đầu tư dự án nhiều biến động, rủi ro.
Khi phân tích đánh giá thị trường để tham gia đầu tư dự án hoặc góp vốn cần hết sức khách quan, không nên quá tập trung với các mặt thuận lợi, đưa ra những kết luận thiếu tính thực tế.2 Đặc điểm của đầu tư theo dự án của doanh nghiệp: Ngoài những đặc điểm chung của dự án đầu tư, dự án đầu tư của doanh nghiệp có những đặc điểm như: Thứ nhất, do ngành nghề kinh doanh của từng doanh nghiệp là khác nhau nên dự án đầu tư của doanh nghiệp tự bản thân mang đặc trưng của từng doanh nghiệp, loại hình, ngành nghề. 4 Thứ hai, nguồn vốn huy động của từng doanh nghiệp huy động vào dự án đầu tư cũng khác nhau. Doanh nghiệp có thể đóng vai trò là chủ đầu tư trực tiếp, góp vốn đầu tư đóng vai trò thứ phát, hoặc liên kết đầu tư. Đồng thời, hoạt động đầu tư dự án đòi hỏi lượng vốn đầu tư lớn do đặc điểm của đầu tư dự án là có giá trị lớn.
Mặc dù khi đầu tư doanh nghiệp chỉ cần đảm bảo 30% vốn đầu tư là tự có tuy nhiên 30% cũng là rất lớn đối với nhiều doanh nghiệp. Vì vậy, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này cần phải có các biện pháp huy động, khai thác vốn phù hợp và hiệu quả. Thứ ba, thời gian thu hồi vốn đầu tư khá dài, vì vậy đòi hỏi doanh nghiệp phải phân bổ vốn và huy động vốn hợp lý, có hiệu quả… Ngoài ra, trong thời gian đầu tư đó có nhiều biến động, vì vậy doanh nghiệp phải có những dự đoán các biến động có thể xảy ra. Ví dụ: về thị trường, sự phát triển kinh tế - xã hội, kỹ thuật – công nghệ, cơ chế, chính sách, sức mua, thời tiết, khí hậu… Thứ tư, mỗi doanh nghiệp có cách thức quản lý dự án khác nhau.
Dự án đầu tư ở mỗi doanh nghiệp chịu sự quản lý khác nhau của từng doanh nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả đầu tư theo dự án của doanh nghiệp. Thứ năm, đầu tư dự án có thể kiếm được lợi nhuận lớn nhưng cũng khiến các doanh nghiệp phải đối mặt với rất nhiều rủi ro. Rủi ro trong đầu tư dự án thể hiện về độ an toàn của vốn, độ tin cậy của mức độ thu lợi dự tính, mức độ chuyển đổi thành tiền và mức độ phức tạp của quản lý tài sản. Các rủi ro đó có thể gộp thành hai loại: những nhân tố ảnh hưởng đến toàn bộ các hạng mục đầu tư mà doanh nghiệp không thể khống chế, gọi là rủi ro hệ thống, và những nhân tố chỉ ảnh hưởng đến một hai hạng mục mà thôi và doanh nghiệp có thể khống chế, gọi là rủi ro cá biệt.3 Vai trò của đầu tư theo dự án của doanh nghiệp Dự án đầu tư đóng vai trò cốt lõi trong việc thúc đẩy tăng trưởng và phát triển bền vững của doanh nghiệp.
Đây là phương tiện quan trọng giúp doanh nghiệp mở rộng quy mô, thâm nhập thị trường mới, đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ, từ đó tạo ra cơ hội phát triển và tăng trưởng. Đồng thời, dự án đầu tư còn giúp doanh nghiệp cải thiện khả năng cạnh tranh thông qua việc áp dụng công nghệ hiện đại, tối ưu hóa quy trình sản xuất và cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ chất lượng cao. Việc triển khai các dự án thành công không chỉ mang lại lợi nhuận mà còn củng cố năng lực tài chính, tạo điều kiện để doanh nghiệp thu hút thêm vốn đầu tư từ các tổ chức tài chính và đối tác. Hơn nữa, dự án đầu tư giúp doanh nghiệp xây dựng uy tín thương hiệu và nâng cao hình ảnh trên thị trường, khẳng định năng lực và cam kết phát triển bền vững.
Điều này không chỉ tạo 5 niềm tin với khách hàng, đối tác mà còn mở ra những cơ hội hợp tác, kinh doanh mới, góp phần tạo lợi thế cạnh tranh dài hạn.4 Nguồn vốn đầu tư theo dự án của doanh nghiệp Để thực hiện dự án, nguồn vốn của doanh nghiệp đóng vai trò quyết định. Nguồn vốn đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển hoạt động đầu tư dự án của doanh nghiệp nói riêng và hoạt động đầu tư đối với doanh nghiệp nói chung. Nguồn vốn đầu tư dự án của doanh nghiệp được huy động từ: Thứ nhất, vốn huy động từ nội bộ: Giải pháp tài chính thông thường là chủ đầu tư phải đảm bảo được một phần kinh phí đầu tư ban đầu bằng vốn tự có của mình, chủ yếu là đầu tư vào tài sản cố định. Ưu điểm của nguồn vốn này là chi phí huy động vốn thấp, vốn sở hữu của doanh nghiệp nên chủ đầu tư có toàn quyền chủ động quyết định sử dụng chúng.
Mặt khác, nguồn vốn huy động từ nội bộ thường có chi phí cơ hội thấp do đó an toàn hơn cho chủ đầu tư trong quá trình đầu tư. Tuy nhiên nếu tăng quá lớn tỉ lệ tài trợ từ vốn nội bộ làm suy giảm khả năng tài chính hiện tại của công ty, ảnh hưởng đến hoạt động khác của công ty. Làm giảm tỉ suất sinh lợi vốn có của doanh nghiệp. Thứ hai, vốn vay: Trong quá trình đầu tư, người ta thường sử dụng các nguồn vốn vay trung và dài hạn để tài trợ cho dự án Doanh nghiệp nhận được các khoản tài trợ này từ những thành phần không phải là chủ sở hữu của nó sau khi nó được chuyển cho doanh nghiệp.
Doanh nghiệp phải trả lãi cho các khoản tiền đã vay. Mức lãi suất được trả cho các khoản nợ vay thường theo một mức ổn định được thoả thuận khi vay. Doanh nghiệp phải hoàn trả lại toàn bộ vốn vay cho các chủ nợ vào một thời điểm nào đó trong tương lai, ngoại trừ trường hợp là tuần hoàn. Doanh nghiệp có thể phải thế chấp bằng các loại tài sản như hàng hóa các loại, tài sản cố định, quyền sở hữu tài sản, cổ phiếu hay các biện pháp bảo lãnh cho vay.
Theo thống kê, hiện nay tiềm lực tài chính của hầu hết doanh nghiệp vẫn còn hạn chế nên vẫn phải phụ thuộc vào nguồn vốn ngân hàng. Ước tính, số vốn đầu tư vào dự án ở nước ta hiện nay có tới hơn 60% là vốn vay ngân hàng. Đối với các dự án bất động sản, các ngân hàng có thể cho vay vốn với tỷ lệ rất cao trong tổng vốn đầu tư của dự án, lên tới 70%, tuy nhiên chỉ sau khi các dự án đã đạt được một số điều kiện như được cấp giấy chứng nhận đầu tư và giấy phép xây dựng. Tính khả thi của nguồn vốn này phụ thuộc nhiều vào chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước trong từng giai đoạn.
Trong giai đoạn Nhà nước thực hiện chính sách thắt chặt tín dụng đối với nền kinh tế nói chung và thị trường bất động sản nói riêng khiến lãi suất cho vay của các ngân hàng tăng cao thì các doanh nghiệp khó có thể tiếp cận được với nguồn vốn này do chi phí quá lớn, có thể lên tới trên 20%/năm. 6 Thứ ba, vốn cổ phần: khi khả năng huy động từ nguồn vốn tích luỹ bị hạn chế, các nhà đầu tư thường tìm nguồn tài trợ mới bằng cách tăng vốn cổ phần. Nhìn chung không có sự khác biệt đáng kể nào giữa việc huy động vốn từ nội bộ với việc phát hành thêm cổ phần mới về chi phí tăng vốn ngoại trừ việc phát hành cổ phần thường làm phát sinh thêm một khoản chi phí phát hành. Đặc điểm cơ bản của việc tài trợ bằng vốn cổ phần là vốn được tài trợ bởi chủ sở hữu của các doanh nghiệp cụ thể ở đây là của chủ dự án; không phải trả lãi cho vốn cổ phần đã huy động được mà sẽ chia lợi tức cổ phần cho các chủ sở hữu nếu doanh nghiệp là ra được lợi nhuận; lợi tức cổ phần chia cho các cổ đông tuỳ thuộc vào quyết định của Hội đồng quản trị và nó thay đổi theo mức lợi nhuận mà công ty đạt được; doanh nghiệp không phải hoàn trả những khoản tiền vốn đã nhận được cho chủ sở hữu trừ khi doanh nghiệp đóng cửa và chia tài sản; doanh nghiệp không phải thế chấp tài sản hay nhờ bảo lãnh, bởi vốn huy động là của chủ sở hữu.