Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN XÃ VEN ĐÔ 1. Khái niệm, đặc điểm, vị trí, vai trò của chính quyền xã ven đô 1. Khái niệm chính quyền xã ven đô Bộ máy nhà nước là hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương, được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc chung, thống nhất nhằm thực hiện những nhiệm vụ và chức năng của nhà nước. Để đảm bảo thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ của mình, các nhà nước đều tập trung xây dựng, tổ chức bộ máy nhà nước của mình theo xu hướng ngày càng hoàn thiện hơn.
Từ khi được thành lập đến nay, bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không ngừng phát triển mạnh và được củng cố, hoàn thiện. Theo quy định của pháp luật hiện hành, bộ máy nhà nước ta được tổ chức và hoạt động trên cơ sở nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp [37]. Để đảm bảo cho quản lý nhà nước, tổ chức bộ máy nhà nước Việt Nam được chia thành bốn cấp chính quyền: Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. Các cấp tỉnh, huyện và xã ở Việt Nam được gọi là chính quyền địa phương, trong đó cấp xã gồm: xã, phường, thị trấn được coi là cấp chính quyền cơ sở có vai trò quan trọng trong bộ máy nhà nước.
Khác với chế độ tự quản địa phương của một số nước, chính quyền địa phương của Việt Nam là một bộ phận hợp thành của chính quyền nhà nước thống nhất, bao gồm các cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương do nhân dân địa phương trực tiếp bầu ra và các cơ quan, tổ chức khác được thành lập trên cơ sở các cơ quan quyền lực nhà nước theo quy định của pháp luật nhằm quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội ở địa phương, trên cơ sở nguyên tắc 10 z tập trung dân chủ và kết hợp hài hòa giữa lợi ích nhân dân địa phương với lợi ích chung của cả nước [19]. Khái niệm chính quyền địa phương là khái niệm phát sinh từ khái niệm hệ thống các cơ quan nhà nước ở địa phương. Khái niệm này được sử dụng khá phổ biến trong nhiều văn bản pháp luật của nhà nước. Là một khái niệm được sử dụng nhiều trong tổ chức và hoạt động của nhà nước vào đời sống thực tế xã hội.
Ven đô được hiểu là khu vực đan xen giữa các hoạt động vùng đô thị và nông thôn, những nét đặc trưng của khu vực thay đổi nhanh chóng do tác động của con người, đang trong quá trình đô thị hóa, do đó ngày càng tiếp nhận nhiều đặc điểm của khu vực đô thị [32]. Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là bộ phận quan trọng trong hệ thống chính trị Việt Nam. Điều 2 Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân” [44]. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức và Điều 3 Hiến pháp năm 2013 đã xác định: Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện [44, Điều 3].
Chính quyền xã là một bộ phận quan trọng trong bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là chính quyền cấp thấp nhất trong hệ thống chính quyền bốn cấp hoàn chỉnh: Trung ương, tỉnh, huyện, xã; là cấp chính quyền gần dân nhất. Chính quyền xã bao gồm Hội đồng nhân dân và 11 z Ủy ban nhân dân. “Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương, bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên” [44, Điều 113, Khoản 1]. Hội đồng nhân dân cấp xã được hình thành bởi các đại biểu Hội đồng nhân dân, đây là những đại biểu do nhân dân trong xã, phường, thị trấn bầu ra theo nguyên tắc phổ thông bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.
Hội đồng nhân dân xã, phường chỉ có duy nhất một bộ phận, đó là Thường trực Hội đồng nhân dân (khác với cơ cấu tổ chức của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện, là những cơ quan có các ban chuyên môn). Thường trực Hội đồng nhân dân xã là cơ quan thường trực của Hội đồng nhân dân cấp này giữa hai kỳ họp; do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra trong số đại biểu Hội đồng nhân dân tại kỳ họp đầu tiên của mỗi khóa, theo thể thức: bầu Chủ tịch Hội đồng nhân dân theo sự giới thiệu của chủ tọa kỳ họp, bầu Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân theo sự giới thiệu của Chủ tịch Hội đồng nhân dân. Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền ứng cử và đề cử người khác vào các chức vụ đó. Thành viên của Thường trực Hội đồng nhân dân không thể đồng thời là thành viên của Ủy ban nhân dân cùng cấp.
Kết quả bầu cử phải được Thường trực Hội đồng nhân dân cấp huyện trực tiếp phê chuẩn; trong khi chờ phê chuẩn, những người được bầu giữ chức vụ trên được thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn ngay sau khi bầu [39]. Nhiệm kỳ của Thường trực Hội đồng nhân dân xã, bao gồm cả nhiệm kỳ của Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân là năm năm theo nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân; Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã không được giữ chức vụ đó quá hai nhiệm kỳ liên tục. “Ủy ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân” [37, Điều 123]. 12 z Ủy ban nhân dân xã gồm có Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Ủy viên.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã phải là đại biểu Hội đồng nhân dân cùng cấp, các thành viên khác không nhất thiết phải là đại biểu Hội đồng nhân dân. Trong nhiệm kỳ, nếu khuyết Chủ tịch Ủy ban nhân dân thì người được giới thiệu để Hội đồng nhân dân xã bầu không nhất thiết phải là đại biểu Hội đồng nhân dân. Hội đồng nhân dân bầu Ủy ban nhân dân theo nguyên tắc bỏ phiếu kín, bầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân theo sự giới thiệu của Chủ tịch Hội đồng nhân dân; tiếp đó bầu Phó Chủ tịch và các Ủy viên Ủy ban nhân dân theo sự giới thiệu của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã. Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền ứng cử và đề cử người khác vào các chức vụ trên.
Kết quả bầu cử phải được Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện phê chuẩn. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã không được giữ chức vụ đó quá hai nhiệm kỳ liên tục [41]. Theo pháp luật hiện hành, số thành viên Ủy ban nhân dân xã được quy định như sau: - Đối với xã miền núi, hải đảo có dân số dưới 5.000 người; xã đồng bằng, trung du có dân số dưới 8.000 người thì có số thành viên Ủy ban nhân dân là ba người gồm một Chủ tịch, một Phó Chủ tịch và một ủy viên. Trong nhiệm kỳ, Hội đồng nhân dân xã có thể ấn định thêm thành viên Ủy ban nhân dân nhưng tổng số không được quá năm người và phải được Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện phê chuẩn.
- Đối với xã miền núi, hải đảo có dân số từ 5.000 người trở lên; xã đồng bằng, trung du có dân số từ 8.000 người trở lên và xã biên giới thì có số thành viên Ủy ban nhân dân là năm người, gồm một Chủ tịch, hai Phó Chủ tịch và hai ủy viên. - Đối với phường, thị trấn thì có số thành viên Ủy ban nhân dân là năm người, gồm có một Chủ tịch, hai Phó Chủ tịch và hai ủy viên. Ủy ban nhân dân xã không có các cơ cấu trực thuộc mà chỉ có các chức 13 z danh chuyên trách để phụ trách các mảng công việc thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân xã, cụ thể bao gồm các mảng công việc: Công an, Quân sự, Văn phòng - Thống kê, Địa chính - Xây dựng, Tài chính - kế toán, Tư pháp - Hộ tịch, Văn hóa - Xã hội. Hội đồng nhân dân cấp xã Ủy ban nhân dân cấp xã Văn phòng Địa chính Công an Quân sự Thông kê Xây dựng Tài chính Tư pháp Văn hóa Kế toán Hộ tịch Xã hội Sơ đồ 1.1: Tổ chức chính quyền xã Nguồn: Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân Như vậy có thể thấy xã, phường là những đơn vị hành chính độc lập, có cơ cấu tổ chức riêng để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ theo luật định.
Mọi hoạt động đều diễn ra trong địa giới hành chính của xã, phường. Hoạt động kinh tế của xã, phường là chủ yếu, tiếp đến mới là hoạt động quản lý hành chính - Tư liệu sản xuất và địa bàn sản xuất của nhân dân nằm trong địa giới hành chính của xã, phường, do chính quyền xã trực tiếp quản lý, điều hành. Mọi hoạt động quản lý của chính quyền xã liên quan trực tiếp đến người dân trong xã, phường; chính quyền xã vừa là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, vừa là cơ quan tự quản của xã, phường, thị trấn. Đặc điểm của chính quyền xã Thứ nhất, tổ chức chính quyền xã theo hình thức tự quản, phi tập trung 14 z Do là cấp gần với cộng đồng dân cư nên hình thức tự quản, phi tập trung được coi là hình thức phù hợp nhất đối với tổ chức của chính quyền xã, phường.
Địa bàn xã, phường là nơi vừa diễn ra hoạt động quản lý của Nhà nước bằng pháp luật, vừa diễn ra các hoạt động tự quản của dân, do dân tự tổ chức và tự thực hiện bằng những thỏa ước cộng đồng.