CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Nội dung cơ bản về vận tải Feeder 1.1 Khái niệm và đặc điểm của vận tải Feeder 1.1 Khái niệm về hoạt động kinh doanh vận tải Feeder. “Định nghĩa đại lý tàu biển” (điều 158, chương VIII, Bộ luật hàng hải Việt Nam, 2005): Đại lý tàu biển là dịch vụ mà người đại lý tàu biển nhân danh chủ tàu hoặc người khai thác tàu tiến hành các dịch vụ liên quan đến tàu biển hoạt động tại cảng, bao gồm việc thực hiện các thủ tục tàu biển vào, rời cảng; ký kết hợp đồng vận chuyển, hợp đồng bảo hiểm hàng hải, hợp đồng bốc dỡ hàng hoá, hợp đồng thuê tàu, hợp đồng thuê thuyền viên; ký phát vận đơn hoặc chứng từ vận chuyển tương đương; cung ứng vật tư, nhiên liệu, thực phẩm cho tàu biển; trình kháng nghị hàng hải; thông tin liên lạc với chủ tàu hoặc người khai thác tàu; dịch vụ liên quan đến thuyền viên; thu, chi các khoản tiền liên quan đến hoạt động khai thác tàu; giải quyết tranh chấp về hợp đồng vận chuyển hoặc về tai nạn hàng hải và dịch vụ khác liên quan đến tàu biển. Kinh doanh vận tải Feeder(Feeder Operator): Là hoạt động cung ứng dịch vụ đưa tàu biển chuyên dụng để chuyên chở container từ một cảng “khu vực đến một cảng “trung chuyển” lớn.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh vận tải Feeder Đặc điểm kinh doanh vận tải Feeder là việc hãng tàu, người cung cấp dịch vụ vận tải theo định kỳ, định tuyến nhằm trung chuyển hàng giữa: Cảng chuyển tải với cảng xếp hàng hoặc cảng dỡ hàng trong hành trình của hàng hóa hoặc giữa hai cảng xếp và dỡ theo hợp đồng với MainLines.3 Vai trò của hoạt động kinh doanh vận tải Feeder trong hoạt động vận chuyển hàng hóa quốc tế. Kinh doanh vận tải Feeder như một cầu nối mắc xích trong chuỗi cung ứng dịch vụ vận chuyển container quốc tế.
Các tuyến vận tải hình thành và thu hẹp khoảng cách địa lý, nhưng cũng đặt ra cho người kinh doanh vận tải container bài toán hiệu quả sản xuất. Việc phân bố phạm vi kinh doanh (chuyên môn hóa từng c 5 công đoạn) giúp cho nhà kinh doanh vận tải biển phát huy tối đa năng lực kinh doanh. Kinh doanh vận tải Feeder phù hợp cho thị trường giúp cho nhiều doanh nghiệp có lượng vốn nhỏ vẫn có teher tham gia vào chuỗi vận chuyển hàng hóa quốc tế. Các quốc gia có ngành vận tải container non trẻ vẫn có cơ hội để phát triển.
Hoạt động đầu tư kinh doanh vận tải Feeder không chỉ mang lợi ích kinh tế cho chủ đầu tư, mà còn mang lại lợi ích cho mở rộng thương mại và giao lưu, trao đổi hàng hóa quốc tế.2 Cơ sở vật chất cho kinh doanh vận tải Feeder 1.1 Tàu feeder Feeder vessel hoặc Feeder ship: Tàu tàu container này thu cước vận chuyển Container tiếp vận - Loại tàu container suốt (through rate) trong đó bao gồm cả cỡ nhỏ, có sức chứa khoảng vài trăm cước vận chuyển nhanh (Feeder rate). container 20’ (TEU), hoạt động trên tuyến vận chuyển nhanh (Feeder service), phục vụ việc tập trung hoặc phân phối container hàng hóa giữa các cảng nhánh (feeder ports) và các cảng bốc/dỡ trung tâm (Hub ports) của các con tàu container cỡ lớn chuyên hoạt Hình 1.1: Tàu Feeder động đường dài. Thông thường các hãng Thế hệ tàu Kích cỡ Trọng tải Chiều dài tổng Chiều Mớn Feeder (TEU) (DWT) thể LOA (m) rộng (m) nước (m) Feeder nhỏ < 1.1: Thế hệ tàu Feeder -Tổng hợp từ Frans, W. (2001) và MAN B&W (2010) c 6 Thế hệ tàu container thứ nhất (feeder loại nhỏ với sức chở < 1.000 TEU) được phát triển từ năm 1956 đến những năm 1960.
Với sức chở trung bình từ vài trăm TEU cho đến dưới 1000 TEU, đây là thế hệ tàu container đầu tiên ra đời và phục vụ cho các tuyến vận tải ngắn (short sea shipping) giữa các cảng gần nhau trong nội bộ một nước, một khu vực hoặc giữa các khu vực gần nhau. Về kỹ thuật, phần lớn các tàu container thế hệ này được hoán cải từ các loại tàu chở hàng khác như tàu chở hàng tổng hợp (general ship) hoặc tàu dầu (tanker). Vì vậy, trong giai đoạn này, hầu như vẫn chưa có khái niệm tàu container chuyên dụng, và người ta vẫn thường dùng cụm từ “semi-container ship” (tàu container bán chuyên dụng) để gọi tên thế hệ tàu container này. Đây là thế hệ tàu phù hợp để vận chuyển cả hàng thông thường (general cargo) và cả container.
Chính vì vậy, các loại tàu container thuộc thế hệ này thường có trang bị cần cẩu (gear) có thể vừa làm được hàng thông thường lẫn hàng container. Thế hệ tàu thứ hai (feeder với sức chở từ 1.000 TEU) được phát triển vào những năm 1970, với sức chở từ 1200 TEU đến 3000 TEU. Đây là loại tàu container được sử dụng cho các hải trình xa hơn giữa các châu lục trên thế giới, giữa các nước châu Âu, giữa châu Âu và châu Mỹ. Giai đoạn này ra đời dịch vụ feedering (gom hàng) giữa các cảng nhỏ khu vực châu Âu và Mỹ được thực hiện bởi các loại tàu container loại nhỏ (bằng kích thước sà lan ngày nay) nhằm gom hàng cho các tàu có sức chở lớn hơn (khoảng 3000 TEU) chạy trên tuyến dài hơn giữa các châu lục Ví dụ: “Tàu mẹ - Mother vessel hoạt động giữa cảng Hamburg và cảng Singapore, tàu Feeder gom hàng hoạt động giữa cảng Singapore và cảng Cát Lái để bốc hàng từ Hồ Chí Minh chở sang cho tàu mẹ nằm tại Singapore và dỡ hàng từ tàu mẹ về lại Hồ Chí Minh.
Cũng như các loại tàu vận chuyển hàng hóa trên biển khác, tàu feeder cũng có những đặc trưng kỹ thuật cơ bản như sau: - Tên tàu (ship name) - Cảng đăng ký của tàu (port of registry) - Cờ tàu - Chủ tàu (shipowner) c 7 - Người chuyên chở (carrier) - Kích thước con tàu (dimension of ship) o Chiều dài của tàu (length over all) o Chiều rộng của tàu (Breadth extreme) - Mớn nước (draft) o Mớn nước tối thiểu (light draft) o Mớn nước tối đa (leaded draft) - Trọng lượng của tàu (displacement tonnage) o Trọng lượng tàu không hàng ( light displacement) o Trọng lượng tàu đầy hàng (heavy displacement) - Dung tích đăng ký của tàu (registered tonnage) o Dung tích đăng ký toàn phần ( gross registered tonnage) o Dung tích đăng ký tịnh (net registered tonnage) - Trọng tải của tàu: o Trọng tải tịnh (NWT) o Trọng tải toàn phần của tàu (DWT) 1.2 Các tuyến đường biển Tuyến đường biển là các tuyến đường nối hai hay nhiều cảng với nhau trên đó tàu biển hoạt động chở khách hoặc hàng hoá. Với đặc trưng của vận tải feeder, các tuyến đường biển là những tuyến đường ngắn, thường là từ cảng nhánh đến cảng bốc/trung tâm (hub ports). Việt Nam chủ yếu thực hiện các chuyến ngắn trong khu vực Châu Á như từ Hải Phòng hoặc Hồ Chí Minh đi Tokyo/Yokohama; Osaka/Kobe; Manila; Singapore; Jakata; Taijung; Port Klang; BangKok; Langchaiibang Hongkong; Shanghai; Kaoshung; Qingdao; Busan.3 Hệ thống cảng biển Cảng biển là nơi ra vào neo đậu của tàu biển, là nơi phục vụ tàu và hàng hoá trên tàu và là đầu mối giao thông quan trọng của một quốc gia có biển. Trước tình hình đó, ngày 24-12-2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 2190/QĐ-TTg về phê duyệt quy hoạch phát triển Hệ thống cảng biển c 8 Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.
Theo đó, việc phát triển hệ thống cảng biển phải theo vùng lãnh thổ và được phân loại cụ thể về quy mô, chức năng, nhiệm vụ của từng loại cảng trong hệ thống cảng biển quốc gia theo thứ tự sau: Cảng tổng hợp quốc gia là cảng chính trong hệ thống cảng biển Việt Nam, bao gồm: cảng trung chuyển quốc tế (Vân Phong); cảng cửa ngõ quốc tế (Hải Phòng, Thị Vải - Cái Mép); cảng đầu mối khu vực (Hòn Gai, Nghi Sơn, Cửa Lò, Vũng Áng, Dung Quất, Quy Nhơn, Nha Trang, Sài Gòn, Đồng Nai…). Các cảng địa phương với chức năng phục vụ chủ yếu trong phạm vi từng tỉnh, thành phố. Cảng chuyên dụng phục vụ trực tiếp các cơ sở công nghiệp tập trung, các loại hàng hóa có tính đặc thù, chuyên biệt và là một hạng mục trong tổng thể công nghiệp mà nó phục vụ. Trong mỗi cảng, cùng với nghiên cứu, bố trí hệ thống khu vực bến, các bến và cầu cảng một cách khoa học, cần tập trung đầu tư trang, thiết bị hiện đại cùng công nghệ quản lý, điều hành tiên tiến, ngang tầm khu vực và thế giới, không ngừng nâng cao năng suất, hiệu quả hoạt động.
Với cách quy hoạch, phát triển hệ thống cảng biển nêu trên, dự kiến đến năm 2020, sản lượng hàng hóa thông quan có thể đạt trên 1.100 triệu tấn/năm, góp phần quan trọng phát triển kinh tế biển của đất nước trong bối cảnh hội nhập. Ở Việt Nam có các cảng chính như: - Cảng Hồ Chí Minh (HCM): nằm ở phía nam Việt Nam, là một trong các cảng lớn nhất Việt Nam, là trung tâm trung chuyển hàng hóa của toàn bộ khu vực phía nam như Đồng Nai, Bình Dương, Long An, An Giang, Vĩnh Long, Bạc Liêu, Cần Thơ. - Cảng Cái Mép (TCIT): thuộc tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, cách cảng Hồ Chí Minh 130km thuận lợi cho tuyến chuyên chở hàng trực tiếp đi Mỹ, Châu Âu… - Cảng Hải Phòng (HPH): nằm ở phía bắc Việt nam, là trung tâm trung chuyển hàng hóa của toàn bộ khu vực phía Bắc Việt Nam. - Cảng Đà Nẵng (DAD): thuộc Thành phố Đà Nẵng, là trung tâm trung chuyển hàng hóa của toàn bộ khu vực miền trung Việt Nam.
c 9 - Cảng Qui Nhơn: Cảng Quy Nhơn là Cảng tổng hợp quốc gia, đầu mối khu vực (loại 1) của nhóm Cảng biển Nam Trung bộ. Luồng tàu và cầu Cảng có độ sâu tự nhiên có thể tiếp nhận được các loại tàu đến 30.000DWT ra/vào bình thường và tàu 50. Khái niệm Container là một dụng cụ vận tải có các đặc điểm sau: Có hình dạng cố định, bền chắc, sử dụng nhiều lần Có cấu tạo đặc biệt thuận tiện cho việc xếp và dỡ hàng hóa cũng như thích hợp và thuận tiện chuyên chở bằng các phương tiện vận tải. Có dung tích lớn chứa hàng lớn và ổn định.
Phân loại Phân loại container theo diện tích : - Container loại 20 feet: 2,4m x 6m x 2,4m. - Container loại 40 feet thấp: 2,4m x 12m x 2,4m. - Container loại 40 feet cao: 2,4m x 12m x 2,6m. - Container loại 45 feet cao: 2,4m x 14m x 2,6m.
Phân loại container theo đặc tính gồm: - Container kín (close container). - Container đóng xúc vật (live stock container). - Container khí hóa lỏng (test container). - Container đựng chất lỏng, hóa chất- bồn (tank Container).