Chương 1: Lý luận cơ bản về xác định giá trị doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng về quy trình và phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp trong quá trình cổ phần hóa DNNN tại công ty định giá VVFC Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động định giá doanh nghiệp tại Công ty Cổ phần Định giá và Dịch vụ Tài chính Việt Nam - VVFC. 5 Chƣơng 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP 1. DOANH NGHIỆP VÀ GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP 1. Doanh nghiệp Doanh nghiệp là một thuật ngữ trong kinh doanh dùng để chỉ các tổ chức kinh tế, cá nhân nhằm phân biệt nó với các hình thức kinh doanh có quy mô quá nhỏ.
Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, hoạt động kinh doanh trên thị trƣờng nhằm mục tiêu sinh lợi. Ở Việt Nam, theo Điều 4 Chƣơng I Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26/11/2014 của Quốc Hội: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, đƣợc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. [16] Doanh nghiệp là một thực thể kinh tế có những đặc trƣng sau: - Doanh nghiệp là một loại hàng hóa đặc biệt. - Doanh nghiệp là một tổ chức, một thực thể hoạt động chứ không phải là các tài sản rời rạc đƣợc tập hợp vào với nhau.
- Việc thành lập hay mua bán lại doanh nghiệp thực chất là nhằm tìm kiếm thu nhập từ quyền sở hữu đối với doanh nghiệp đó. - Doanh nghiệp là một tế bào của nền kinh tế 1. Giá trị doanh nghiệp Giá trị (value) là một khái niệm kinh tế có liên quan đến giá cả, chủ yếu do ngƣời mua và ngƣời bán xác định. Giá trị là mức giá dự tính sẽ phải trả đối với hàng hoá hoặc dịch vụ tại một thời điểm nhất định.
Giá trị của doanh nghiệp là sự biểu hiện bằng tiền của các khoản thu nhập mà doanh nghiệp mang lại cho các nhà đẩu tƣ trong suốt quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.31] Giá trị doanh nghiệp có những đặc điểm sau - Giá trị của một doanh nghiệp đƣợc xác định tại một thời điểm cụ thể. - Giá trị của một doanh nghiệp đƣợc xác định trên cơ sở thị trƣờng và lợi 6 nhuận trong tƣơng lai đã đƣợc dự tính của doanh nghiệp đó. - Giá trị tài sản ròng chi phối giá trị của doanh nghiệp. - Quan hệ cung cầu chi phối giá trị thị trƣờng của doanh nghiệp.
Có 3 nhóm nhân tố chính tác động đến giá trị doanh nghiệp: - Nhóm nhân tố thuộc về môi trƣờng vĩ mô bao gồm các nhân tố: môi trƣờng kinh tế, môi trƣờng chính trị, môi trƣờng văn hóa – xã hội, môi trƣờng tự nhiên và môi trƣờng công nghệ. - Nhóm các nhân tố thuộc về môi trƣờng ngành bao gồm: quan hệ giữa doanh nghiệp với khách hàng; quan hệ giữa doanh nghiệp với nhà cung cấp; các hãng cạnh tranh, các cơ quan nhà nƣớc. - Nhóm các nhân tố liên quan đến môi trƣờng nội bộ doanh nghiệp gồm có: hiện trạng về tài sản trong doanh nghiệp, vị trí kinh doanh, uy tín kinh doanh, chất lƣợng lao động, năng lực quản trị kinh doanh. XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP 1.
Khái niệm xác định giá trị doanh nghiệp Xác định giá trị doanh nghiệp (hay định giá doanh nghiệp) là một khâu rất quan trọng trong quá trình đổi mới DN, thƣờng đƣợc áp dụng khi các DN tổ chức sắp xếp, cơ cấu lại dây chuyền sản xuất hoặc các bộ phận sản xuất kinh doanh. Quá trình này nhằm mục tiêu tính toán, xác định giá trị của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định. GTDN cơ bản khác với giá bán DN trên TT. GTDN đƣợc đo bằng độ lớn của các khoản thu nhập mà DN có thể đem lại cho nhà đầu tƣ.
Giá bán thực tế của DN là mức giá đƣợc hình thành trên thị trƣờng, có thể có khoảng cách khá xa so với đánh giá của các TCĐG. Giá mua bán DN còn phụ thuộc vào cung cầu “hàng hóa DN”, cung cầu về chứng khoán và cung cầu về tiền tệ thị trƣờng. GTDN vẫn tồn tại ngay cả khi không có việc mua bán và chuyển nhƣợng. GTDN đơn giản là một khái niệm đƣợc các TCĐG sử dụng trong việc đánh giá tổng thể các khoản thu nhập mà DN có thể đƣa lại.
Để XĐGTDN thƣởng phải đòi hỏi có các chuyên gia, các TCĐG chuyên nghiệp độc lập thực hiện nhằm đảm bảo tính 7 trung thực, khách quan, hạn chế sự chi phối của yếu tố TT làm xuyên tạc GTDN. Ngoài ra, XĐGTDN không đơn giản chỉ để mua bán, sáp nhập, hợp nhất hoặc chia nhỏ DN mà còn nhằm phục vụ cho nhiều hoạt động giao dịch kinh tế khác nhƣ: xác định vị thế tín dụng, cung cấp thông tin cho hoạt động quản lý kinh tế vĩ mô, cho hoạch định chiến lƣợc trong DN.5] Do vậy, có thể đƣa ra khái niệm định giá doanh nghiệp nhƣ sau: “XĐGTDN hay còn gọi là định giá doanh nghiệp là việc ước tính bằng tiền với độ tin cậy cao nhất về các khoản thu nhập mà DN có thể tạo ra trong quá trình sản xuất kinh doanh, làm cơ sở cho các hoạt động giao dịch thông thường”. Các nhân tố ảnh hƣởng đến cơ chế xác định giá trị doanh nghiệp Các nhân tố ảnh hƣởng đến cơ chế xác định giá trị doanh nghiệp đƣợc chia làm hai nhóm nhân tố chính: - Nhóm nhân tố chủ quan bao gồm: nguồn nhân lực thực hiện xác định giá trị doanh nghiệp, hệ thống cơ sở dữ liệu và năng lực tài chính của tổ chức định giá. - Nhóm nhân tố khách quan bao gồm: môi trƣờng kinh tế, môi trƣờng pháp lý, sự phát triển của hiệp hội nghề nghiệp, mục đích xác định giá trị doanh nghiệp và sự cạnh tranh giữa các tổ chức định giá.
Các nguyên tắc XĐGTDN Nguyên tắc sử dụng tốt nhất và có hiệu quả nhất: Sử dụng tốt nhất và có hiệu quả nhất tài sản là đạt đƣợc mức hữu dụng tối đa có thể cho phép về mặt pháp lý, về kỹ thuật, về tài chính trong những hoàn cảnh kinh tế - xã hội thực tế phù hợp và đem lại giá trị cao nhất cho TS. Nguyên tắc cung - cầu: Giá trị của một TS đƣợc xác định bởi mối quan hệ cung và cầu về TS đó trên TT. Đồng thời, giá trị của TS đó cũng tác động đến cung và cầu về TS. Giá trị của TS thay đổi tỷ lệ thuận với cầu và tỷ lệ nghịch với cung về TS.
Nguyên tắc thay đổi: Giá trị của TS thay đổi theo sự thay đổi của những yếu tố hình thành và tác động đến giá trị của tài sản nó phản ánh hàng loạt các mối quan hệ nhân quả giữa các yếu tố ảnh hƣởng đến giá trị. Nguyên tắc thay thế: Trong trƣờng hợp hai hay nhiều TS có thể thay thế lẫn nhau 8 trong quá trình sử dụng, thì giá trị của những TS đó đƣợc xác định bởi sự tác động lẫn nhau của TS này đến TS khác. Tài sản nào chào bán ở mức giá thấp nhất thì TS đó sẽ bán đƣợc trƣớc. Một ngƣời mua thận trọng sẽ không trả giá cao hơn chi phí mua một TS thay thế trong cùng một thị trƣờng và một thời điểm.
Nguyên tắc cân bằng: Khi đạt đƣợc sự cân bằng các yếu tố cấu thành của tài sản thì TS đạt đƣợc khả năng sinh lời tối đa hay mức hữu dụng cao nhất. Nguyên tắc thu nhập tăng hoặc giảm: Tổng thu nhập trên khoản đầu tƣ tăng lên sẽ tăng liên tục tới một điểm nhất định, sau đó mặc dù đầu tƣ tiếp tục tăng nhƣng mức thu nhập tăng thêm đó sẽ giảm dần. Nguyên tắc phân phối thu nhập: Tổng thu nhập sinh ra từ sự kết hợp các yếu tố của quá trình sản xuất (đất đai, vốn, lao động, quản lý) và có thể đƣợc phân phối cho từng yếu tố này. Nếu việc phân phối đƣợc thực hiện theo nguyên tắc tƣơng ứng thì phần tổng thu nhập còn lại sau khi đã phân phối cho vốn, lao động và quản lý sẽ thể hiện giá trị của đất đai.
Nguyên tắc đóng góp: Mức độ mà mỗi bộ phận của TS đóng góp vào tổng thu nhập từ toàn bộ TS có tác động đến tổng giá trị của TS đó. Khi xem xét giá trị của TS bộ phận, thẩm định viên cần phải xem xét nó trong mối quan hệ với tài sản tổng thể. Nguyên tắc phù hợp: TS cần phải phù hợp với môi trƣờng của nó nhằm đạt đƣợc mức sinh lời tối đa hoặc mức hữu dụng cao nhất. Do đó, thẩm định viên phải phân tích xem liệu tài sản đó có phù hợp với môi trƣờng hay không khi thẩm định viên xác định mức sử dụng TS tốt nhất và có hiệu quả nhất.
Nguyên tắc cạnh tranh: Đối với tài sản, mối quan hệ cạnh tranh đƣợc quan sát giữa TS này với TS khác. Khi tiến hành thẩm định giá, thẩm định viên cần xem xét, đánh giá tác động của yếu tố cạnh tranh đến thu nhập của TS, đặc biệt khi sử dụng cách tiếp cận từ thu nhập để xác định giá trị của TS. Nguyên tắc dự tính lợi ích tương lai: Giá trị của tài sản có thể đƣợc xác định bằng việc dự tính khả năng sinh lợi trong tƣơng lai. Giá trị của tài sản cũng chịu ảnh hƣởng bởi việc dự kiến thị phần của những ngƣời tham gia thị trƣờng và những thay 9 đổi có thể dự tính trƣớc trong yếu tố này cũng ảnh hƣởng đến giá trị.
XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP VỚI MỤC TIÊU CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC 1. Khái quát về doanh nghiệp nhà nƣớc Điều 4 Chƣơng I Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26/11/2014 của Quốc Hội quy định: “Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ”. [16] Tại Việt Nam, doanh nghiệp nhà nƣớc đƣợc hình thành từ năm 1954 ở miền Bắc và từ năm 1975 ở miền Nam. Nhìn chung, quy mô của các doanh nghiệp nhà nƣớc phần lớn là nhỏ bé, cơ cấu phân tán đƣợc biểu hiện qua số lƣợng lao động và mức độ tích lũy vốn, các doanh nghiệp nhà nƣớc phần lớn là sử dụng các công nghệ lạc hậu.
Hoạt động của các doanh nghiệp nhà nƣớc đƣợc đánh giá là còn nhiều bất cập. Sự đóng góp cua DNNN cho ngân sách chƣa tƣơng xứng với phần đầu tƣ của Nhà nƣớc và chƣa xứng với tiềm lực của DNNN; tình trạng mất mát và thất thoát vốn diễn ra nhiều, việc quản lý các DNNN còn yếu kém [18]. Cùng với sự phát triển của kinh tế thị trƣờng, các doanh nghiệp nhà nƣớc đƣợc sắp xếp lại.