CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ TƯ NHÂN VÀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH HỢP NHẤT 1. Khái quát về tập đoàn kinh tế tư nhân ở Việt Nam 1.1 Quá trình hình thành Sự ra đời và phát triển của các tập đoàn kinh tế là biểu hiện trình độ phát triển cao của lực lượng sản xuất và kinh tế - xã hội. Vì vậy, các tập đoàn kinh tế lớn trên thế giới đều thuộc các liên minh kinh tế mạnh và chủ yếu là ở các nước công nghiệp phát triển. Lịch sử cho thấy các tập đoàn kinh tế lớn chỉ có thể được hình thành và phát triển trong những điều kiện kinh tế - xã hội phù hợp.
Các điều kiện cơ bản đó là: - Trình độ tích tụ, tập trung vốn. - Trình độ chuyên môn hóa, hợp tác kinh doanh. - Trình độ phát triển của khoa học – công nghệ. - Trình độ phát triển của thị trường.
- Trình độ quản lý vi mô, vĩ mô. - Trình độ khu vực hóa, toàn cầu hóa về kinh tế. Ở nước ta, trong những năm qua, quan hệ sản xuất cũng đã có những bước đổi mới phù hợp hơn với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Minh chứng là Đảng và Nhà nước đã xác định rõ một số lĩnh vực trọng điểm cần phải hình thành tập đoàn kinh tế.
Một số Tổng công ty Nhà nước trong những lĩnh vực mũi nhọn cũng đã được chuyển đổi thành các tập đoàn kinh tế. Tuy nhiên, việc hình thành các tập đoàn này chỉ mang tính thuần túy thị trường hoặc bằng các quyết định hành chính hoặc kết hợp cả hai nguyên tắc trên. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 Bên cạnh xu hướng thực hiện thí điểm đó, Nhà nước cũng đã khuyến khích sự hình thành và phát triển của khu vực kinh tế tư nhân khi mà khu vực này trong thời gian qua đã có những bước phát triển đáng kể. Với lợi thế về vốn, công nghệ, mạng lưới phân phối, thương hiệu,…một khi các doanh nghiệp tư nhân có thể liên kết với nhau thì không những tận dụng được các lợi thế của nhau nhằm tạo điều kiện phát triển cho chính những doanh nghiệp đó mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển chung của nền kinh tế.
Vì vậy, với sự phát triển nhanh chóng của khu vực kinh tế tư nhân cả về quy mô và chất lượng đã khiến không ít những doanh nghiệp phát triển nhanh chóng thành nhóm doanh nghiệp có mối quan hệ với nhau về vốn, kỹ thuật và quản trị, kinh doanh trên nhiều ngành nghề và không giới hạn phạm vi. Đó chính là sự liên kết, hình thành mô hình tập đoàn kinh tế tư nhân với những điển hình tiêu biểu như FPT, Đồng Tâm, Kinh Đô, Hòa Phát, Hoàng Anh Gia Lai, Vincom, Trung Nguyên,… Các tập đoàn này đều có vốn góp, cổ phần chi phối lẫn nhau ở các công ty con, công ty liên kết, ngân hàng, đối tác chiến lược trong và ngoài nước với hàng ngàn cổ đông.2 Khái niệm và đặc điểm nhận diện tập đoàn kinh tế Có nhiều khái niệm khác nhau về tập đoàn kinh tế nói chung tùy theo chúng ta lựa chọn góc độ nhìn nhận về tập đoàn kinh tế như thế nào. Ở đây, tác giả xin lựa chọn 2 khái niệm mang tính đặc trưng và tổng quát nhất để trình bày. Nếu đứng góc độ của pháp luật, khái niệm về tập đoàn kinh tế sẽ tập trung vào những hình thức và quy định cách thức thành lập tập đoàn kinh tế hơn.
Chẳng hạn, theo điều 26 Nghị định 139/2007/NĐ-CP ban hành ngày 05 tháng 09 năm 2007 Hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp cho rằng: “Tập đoàn kinh tế bao gồm nhóm các công ty có tư cách pháp nhân độc lập, được hình thành trên cơ sở tập hợp, liên kết thông qua đầu tư, góp vốn, sáp nhập, mua lại, tổ chức lại hoặc các hình thức liên kết khác; gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác tạo thành tổ hợp kinh doanh có từ hai cấp doanh nghiệp trở lên dưới hình thức công ty mẹ - công ty con” LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Nếu đứng dưới góc độ yêu cầu khái niệm về tập đoàn kinh tế phải bao gồm những yêu tố cơ bản nhất và thể hiện rõ nhất thì ta có thể lựa chọn khái niệm sau: “Tập đoàn kinh tế là một cơ cấu sở hữu, tổ chức và kinh doanh đa dạng, có quy mô lớn, nó vừa có chức năng sản xuất kinh doanh, vừa có chức năng liên kết kinh tế nhằm tăng cường khả năng tích tụ, tập trung cao nhất các nguồn lực ban đầu (vốn, sức lao động, công nghệ,…) để tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường và tối đa hóa lợi nhuận. Trong đó các tập đoàn kinh tế là tổ hợp các doanh nghiệp thành viên (công ty con) do một công ty mẹ nắm quyền lãnh đạo chi phối về nguồn lực ban đầu, chiến lược phát triển và hoạt động tại nhiều ngành, lĩnh vực ở nhiều vùng lãnh thổ khác nhau” (Theo tác phẩm “Mô hình tập đoàn kinh tế trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của TSKH Vũ Huy Từ làm Chủ biên). Từ 2 khái niệm trên, ta có thể thấy rằng một tập đoàn kinh tế có những đặc điểm chính như sau: Có quy mô lớn về vốn, lao động, doanh thu và phạm vi hoạt động rộng Sở dĩ có được đặc điểm này là do tập đoàn kinh tế là nơi vừa có sự tích tụ của chính bản thân doanh nghiệp lại vừa có sự tập trung tích tụ của các doanh nghiệp khác hợp thành. Cho nên, dễ dàng thấy rằng tập đoàn kinh tế đã nâng cao được trình độ xã hội hóa sản xuất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất đồng thời lại có năng lực cạnh tranh mạnh mẽ hơn so với từng doanh nghiệp riêng rẽ.
Cụ thể như vốn của tập đoàn kinh tế được tập trung từ nhiều nguồn khác nhau, được bảo toàn và không ngừng phát triển nên đã làm cho quá trình tích tụ và tập trung vốn ngày càng diễn ra nhanh hơn. Vốn càng lớn, tập đoàn lại càng có khả năng chi phối và cạnh tranh mạnh trên thị trường bằng cách mở rộng quy mô, đổi mới công nghệ,… Về lực lượng lao động, tập đoàn là nơi tập trung số lượng lớn lao động có trình độ và tay nghề cao. Không chỉ áp đảo về số lượng, tập đoàn cũng là nơi hội tụ của những lao động giỏi khi mà quá trình tuyển dụng được quan tâm và thực hiện hết sức nghiêm ngặt. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Về phạm vi hoạt động, một tập đoàn không chỉ có phạm vi ở một quốc gia mà có thể có phạm vi ở nhiều nước hoặc mang tính toàn cầu nhằm thực hiện chiến lược cạnh tranh, chiếm lĩnh và khai thác thị trường quốc tế.
Vì vậy, những tập đoàn lớn có thể có hàng nghìn cơ sở hoạt động ở hầu hết các nước trên khắp thế giới. Riêng đối với các tập đoàn ở Việt Nam, do được thành lập cách đây không lâu nên hầu hết chỉ có phạm vi hoạt động trong lãnh thổ nước Việt Nam và rất hiếm khi vươn xa ra phạm vi thế giới. Hoạt động kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực Các tập đoàn thường hoạt động kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực là nhằm để phân tán rủi ro, sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất và lực lượng lao động. Qua quá trình hoạt động và phát triển, các tập đoàn sẽ dần mở rộng, đa dạng hóa các loại hình kinh doanh nhằm phù hợp với yêu cầu của thị trường và sự phát triển của nền kinh tế.
Xu hướng hiện nay các tập đoàn thường là đầu tư sang các lĩnh vực như tài chính, ngân hàng, chứng khoán,… Tuy hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực nhưng hầu hết các tập đoàn đều phải xác định được đâu là ngành chủ đạo và đâu là lĩnh vực mũi nhọn mang tính đặc trưng riêng của tập đoàn. Đa dạng về cơ cấu tổ chức, về sở hữu, pháp nhân và thể nhân Tính đa dạng có được là do tập đoàn kinh tế là một tổ hợp nhiều công ty, bao gồm công ty mẹ và các công ty con. Công ty mẹ chi phối các công ty con về mặt tài chính và chiến lược phát triển; các công ty con vẫn giữ nguyên sự độc lập về tính pháp lý, có tư cách pháp nhân và vẫn có quyền điều hành công ty của mình. Thực chất tính đa dạng trong sở hữu vốn của tập đoàn là sở hữu hỗn hợp nhiều chủ nhưng có một chủ sở hữu lớn đó là công ty mẹ.
Công ty mẹ thường là loại hình công ty cổ phần còn các công ty con thường ở dạng công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn. Công ty mẹ sẽ tham gia chỉ đạo, điều hành hoạt động của các công ty thành viên thông qua quyền biểu quyết tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp. Các công ty trong tập đoàn có thể kết hợp các hoạt động của mình theo kiểu liên kết dọc, liên kết ngang hoặc hỗn hợp cả hai dạng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Trên đây là các đặc điểm nổi bật của các tập đoàn kinh tế nói chung.
Cho dù có những bước đường phát triển với khó khăn thuận lợi khác nhau, song đối với các tập đoàn kinh tế tư nhân ở Việt Nam ta có thể phác họa một số đặc điểm dễ dàng nhận diện như sau: - Hầu hết được hình thành cách đây không lâu, trong khoảng mười năm trở lại đây. - Đều có điểm xuất phát là mô hình công ty gia đình hoặc nhóm nhà đầu tư thân cận liên kết lại với nhau. - Các tập đoàn kinh tế thường xây dựng một “Holding Company” dưới dạng công ty khống chế, nắm cổ phần chi phối các công ty thành viên. - Các tập đoàn này đều có xu hướng muốn mở rộng mô hình, ngành nghề, …tăng cường liên kết, sáp nhập cũng như đẩy nhanh cổ phần hóa, đẩy mạnh chuyên nghiệp hóa.
Xu hướng mới là tập trung đầu tư các lĩnh vực như ngân hàng, chứng khoán, bất động sản, … 1.3 Vị trí pháp lý Ở nước ta, trong hầu hết các chính sách phát triển kinh tế đều thể hiện quan điểm hình thành các tập đoàn kinh tế nhằm đủ sức cạnh tranh trên trường quốc tế. Tuy nhiên, quan điểm này chỉ mới được thể chế hóa ở khu vực kinh tế Nhà nước. Trên thực tế về mặt pháp lý, mô hình tập đoàn kinh tế tư nhân hiện nay chưa được công nhận.