Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Các công trình khoa học trên thế giới nghiên cứu về quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch sử dụng đất theo hướng tích hợp thích ứng biến đổi khí hậu Tác giả Charles M. Haar (2003), sách chuyên khảo “QHSDĐ”, công trình này được sử dụng giảng dạy cho các học phần thuộc khóa học về pháp luật QHSDĐ. Cuốn sách được tác giả kết cấu thành 08 chương trong đó hai giá trị cốt lõi được đề cập đến là quá trình các quyết định sử dụng đất được thực hiện như thế nào ? Đồng thời nhấn mạnh các nhà luật pháp và nhà quy hoạch phải có cùng mục tiêu, tiếng nói chung trong quá trình thực hiện QHSDĐ [203].
Paul Cheshire, Stephen Shepparnd (2015), Kinh tế học phúc lợi của QHSDĐ, Tạp chí Journal of Urban Economics. Bài viết tạp chí khoa học này đã trình bày phương pháp thực nghiệm để đánh giá các lợi ích và chi phí của QHSDĐ. Đồng thời chỉ rõ kỹ thuật này được áp dụng trong bối cảnh thị trường và hệ thống quy hoạch của Vương quốc Anh và Bắc Ai Len. Bên cạnh đó, tác giả cũng đã phân tích, nhấn mạnh đến việc xác định các lợi ích tổng hợp, lợi ích ròng trong việc sử dụng đất mang lại và ý nghĩa của việc phân bổ lợi ích này trong cộng đồng.
Kết quả nghiên cứu khẳng định lợi ích mang lại từ việc QHSDĐ đúng đắn là rất lớn [199]. Monica Digregorio (2017), Tích hợp BĐKH trong lĩnh vực QHSDĐ: Giảm nhẹ, thích ứng và các mối liên kết, Tạp chí Environmental Sciences & Policy, số 67/2017. Tác giả đã phân tích nội hàm khái niệm tích hợp BĐKH trong lĩnh vực QHSDĐ đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết khách quan phải tích hợp BĐKH vào các QHSDĐ để giảm thiểu đáng kể những tổn hại về kinh tế và môi trường trong tương lai đồng thời khai thác sức mạnh tổng hợp do sự tích 11 m hợp này mang lại. Tác giả cũng khẳng định việc tích hợp này đòi hỏi phải: thống nhất mục tiêu ứng phó BĐKH với các mục tiêu phát triển khác, sự gắn kết chính sách về BĐKH với mục tiêu phát triển; thống nhất mục tiêu ứng phó BĐKH theo chiều dọc (các ngành, các lĩnh vực) và theo chiều ngang (từ dẫn chứng khoa học khi nghiên cứu về QHSDĐ tại In-đô-nê-xi-a [202].
Isao Endo (2017), Phương pháp QHSDĐ theo hướng lồng ghép ứng phó với BĐKH vào địa phương quy mô nhỏ, Tạp chí khoa học Sustainable Cities and Society, số 35/2017. Tác giả nhấn mạnh đến vai trò của quá trình lồng ghép giữa chính sách ứng phó với BĐKH và QHSDĐ, đặc biệt là ở các khu vực thành thị. Tuy nhiên, sự hiểu biết về cách thức lồng ghép này trên thực tế bị hạn chế mặc dù sự quan tâm ngày càng gia tăng, đặc biệt ở các nước Đông Nam Á. Một cách tiếp cận hiệu quả là cải thiện việc sử dụng đất trong mối quan hệ chặt chẽ với BĐKH.
Kết quả này có được khi tác giả tiến hành dự án thí điểm với chính quyền địa phương ở Silang-Sta. Việc quản lý sử dụng đất đầu nguồn có sự tham gia của nhiều chủ thể với các công cụ khác nhau (ví dụ như mô phỏng kịch bản, đánh giá rủi ro) cho thấy chuyển đổi mục đích sử dụng đất nếu thực hiện không tốt và dự báo BĐKH không sát sẽ gia tăng lũ lụt xảy ra trong khu vực này [200]. Missy Stults (2017), Tích hợp BĐKH vào quy hoạch để hạn chế rủi ro: Cơ hội và các ví dụ trong thực tiễn, Tạp chí khoa học Climate Risk Management, số 17/2017. Tác giả đã đạt được một số kết quả nghiên cứu quan trọng như sau: Phân tích những thách thức do BĐKH mang lại tại Hoa Kỳ trong vài thập niên qua bằng việc gia tăng các hiểm họa thiên nhiên dẫn đến chi phí khắc phục hậu quả do các tác động của BĐKH ngày càng lớn.
Vì vậy, để ứng phó với những tác động không mong muốn của BĐKH một nhóm cộng đồng địa phương đã tích hợp vấn đề BĐKH vào quy hoạch để giảm nhẹ rủi ro. Tác giả đã phân tích 30 quy hoạch tại các địa phương của Hoa Kỳ. Kết quả cho thấy 23/35 cộng đồng dân cư tại các địa phương trong phạm vi không gian nghiên 12 m cứu đã và đang thảo luận công khai về ảnh hưởng của BĐKH biểu hiện bằng việc gia tăng thiên tai. Bên cạnh đó các hành động để giảm nhẹ rủi ro thiên tai cũng được tính đến để có thể sống được trong giai đoạn BĐKH gây ra các tác động không mong muốn.
Tuy nhiên, một hạn chế đáng kể là những hành động này chỉ đại diện cho một phần nhỏ trong tổng số các hành động đề xuất trong kế hoạch và tập trung vào việc nghiên cứu, lập kế hoạch, tăng cường năng lực cho cộng đồng dân cư. Mặt khác, rất ít cộng đồng dân cư có cam kết chính thức để thích ứng với BĐKH hay cam kết thiết lập các cơ chế rõ ràng để tích hợp (lồng ghép) BĐKH trong các quy hoạch, kế hoạch tại địa phương. Như vậy, có thể khẳng định thẳng thắn rằng có sự thống nhất không cao trong việc tích hợp vấn đề BĐKH vào các quy hoạch giảm nhẹ rủi ro tại các địa phương của Hoa Kỳ [195]. Min Fan (2017), Đánh giá rủi ro môi trường và kinh tế dưới tác động của BĐKH đối với QHSDĐ trên toàn bộ khu vực đầu nguồn sông Teshio phía bắc Hokkaido, Nhật Bản, Tạp chí Sciences of the Total Environment, số 599 - 600 ngày 01/5/2017, Nhật Bản.
Tác giả thông qua nghiên cứu của mình đã khẳng định việc sử dụng đất và BĐKH đã, đang và sẽ ảnh hưởng đến nền kinh tế và môi trường với các mức độ, cường độ khác nhau trong các lưu vực sông. Để có được kết quả này, tác giả đã sử dụng mô hình phân tích rủi ro theo chức năng (SERF) để đánh giá rủi ro về kinh tế và môi trường do bốn kịch bản BĐKH mang lại đối với việc sử dụng đất tại khu vực đầu nguồn Teshio ở phía bắc Hokkaido, Nhật Bản. Trong kịch bản BĐKH thứ nhất tác giả nhận thấy năng suất cây trồng thấp, thu nhập của cộng đồng dân cư trong khu vực giảm đi nhưng tải lượng ô nhiễm từ đất nông nghiệp lại tăng lên điều này cho thấy BĐKH có thể làm giảm kinh tế của người dân. Nhiệt độ và lượng mưa gia tăng cũng bồi đắp thêm lượng phù sa và gia tăng dinh dưỡng cho đất tại sông Teshio nhưng bên cạnh đó sự gia tăng của nhiệt độ và lượng mưa cũng làm nguy cơ 13 m rửa trôi cho khu vực đầu nguồn dẫn đến việc tăng tải lượng ô nhiễm.
Như vậy, BĐKH có thể dẫn đến nhiều rủi ro môi trường hơn. Tóm lại, kết quả nghiên cứu cho thấy BĐKH gây ra rủi ro cao hơn cả về kinh tế lẫn môi trường và những tác động đó cao hơn những lợi ích về sử dụng đất trong lưu vực sông nghiên cứu. Những phát hiện này sẽ giúp các nhà quản lý rừng đầu nguồn và người dân thận trọng hơn trong việc phát triển kinh tế nông nghiệp và bảo vệ môi trường trên cơ sở QHSDĐ một cách tối ưu trước tác động không mong đợi của BĐKH [201]. Y Zhou và các cộng sự (2017), Ảnh hưởng của QHSDĐ (2006 - 2020) đối với tăng trưởng đất xây dựng ở Trung Quốc, Tạp chí Sciences of the Total Environment, số 596 - 597.
Tác giả Y Zhou và các cộng sự đã nêu bật vai trò của QHSDĐ với ý nghĩa là một công cụ quản lý của nhà nước đối với đất tại Trung Quốc và việc QHSDĐ cũng ảnh hưởng lớn đến việc tăng trưởng kinh tế tại nước này. Nhóm tác giả cũng chỉ ra thực tế hiện nay tại Trung Quốc rất ít nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện để xác định chính xác hiệu quả của QHSDĐ nói chung và đất xây dựng tại các thành phố trên toàn Trung Quốc nói riêng. Chính vì vậy, nghiên cứu này của nhóm tác giả nhằm đánh giá hiệu quả của QHSDĐ đối với phát triển đất xây dựng ở cấp thành phố tại Trung Quốc thông qua việc lấy 288 thành phố làm đối tượng nghiên cứu trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2012. Kết quả cho thấy việc thực hiện QHSDĐ có hiệu quả nhất định trong việc kiềm chế mở rộng đất xây dựng không theo quy hoạch.
Bên cạnh đó, hiệu quả thực hiện QHSDĐ có sự khác biệt về thời gian. Cuối cùng, để nâng cao hơn nữa hiệu quả và thành công của QHSDĐ, nhóm tác giả đã đưa ra một số giải pháp, gợi ý để thực hiện hoạt động này được tốt hơn trong tương lai tại Trung Quốc [204]. Stevens, Maged Senbel (2017), QHSDĐ đô thị có phù hợp với sự BĐKH toàn cầu, Tạp chí Land Use Policy, số 68/2017. Nhóm tác giả đã chọn địa bàn nghiên cứu tại bang British Columbia của Ca-na-da và đạt được 14 m những kết quả khoa học như sau: Phân tích QHSDĐ hiện có tại bang British Columbia và đặt ra câu hỏi liệu các QHSDĐ này đã phù hợp với BĐKH toàn cầu hay chưa.
Nhóm nghiên cứu cũng khẳng định rằng nội dung BĐKH trong các QHSDĐ đã không thay đổi nhiều từ năm 2011 đến năm 2015. Trên cơ sở đó, nhóm nghiên cứu đã gợi ý một số giải pháp để các đô thị tiến hành QHSDĐ phù hợp hơn với quá trình BĐKH trong tương lai [205]. Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) (2017), Một số ý kiến về quản trị vùng, Hội nghị về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với BĐKH, thành phố Cần Thơ. Trong tham luận quan trọng này, UNDP nhấn mạnh đến việc cần thống nhất một số nguyên tắc quan trọng thể hiện trong quy trình và kết quả của quy hoạch tổng thể vùng ĐBSCL với cách tiếp cận hài hòa có sự phối hợp chứ không tách biệt, gây mâu thuẫn; thực hiện quy hoạch phải được tham vấn theo nguyên tắc dân chủ cơ sở để người dân cùng với đại diện của họ được tham gia tích cực vào mọi công đoạn; đầu tư ưu tiên phải tuân thủ nguyên tắc hiệu quả và bền vững vùng; quản lý nước phải thực sự tổng hợp vì nước cần cho nhiều ngành và địa phương với những lợi ích có thể cạnh tranh hoặc mâu thuẫn với nhau.
UNDP tin rằng các công cụ quan trọng sẽ được sử dụng để xây dựng quy hoạch tổng thể tại ĐBSCL và đề xuất, gợi ý một số giải pháp cụ thể để hiện thực hoá các mục tiêu của quy hoạch vùng ĐBSCL [81]. Chính phủ Hà Lan và Chính phủ Việt Nam (2013), Kế hoạch ĐBSCL, Hà Nội. Bản Kế hoạch nhằm mục tiêu phát triển bền vững, xây dựng một vùng Đồng bằng an toàn, trù phú.