CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Tổng quan về vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước 1. Khái niệm về vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước 1.1- Khái niệm chung vốn đầu tư xây dựng cơ bản Xây dựng cơ bản xét về bản chất nó là ngành sản xuất vật chất có chức năng tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân thông qua hình thức xây dựng mới, xây dựng lại hay hiện đại hoá hay khôi phục lại tài sản đã có, vì thế để tiến hành được các hoạt động này thì cần phải có nguồn lực hay còn gọi là vốn. Vậy, vốn đầu tư xây dựng cơ bản là những chi phí bằng tiền để xây dựng mới, mở rộng, xây dựng lại hoặc khôi phục năng lực sản xuất của tài sản cố định trong nền kinh tế.
Có rất nhiều khái niệm vốn đầu tư xây dựng cơ bản khác nhau, tại Điều 5 Điều lệ quản lý đầu tư xây dựng cơ bản kèm theo Nghị định 385-HĐBT ngày 07/11/1990 của Hội đồng Bộ trưởng đã khái niệm về vốn đầu tư xây dựng cơ bản như sau: “Vốn đầu tư xây dựng cơ bản chính là toàn bộ chi phí để đạt được mục đích đầu tư, bao gồm chi phí cho việc khảo sát, quy hoạch xây dựng, chuẩn bị đầu tư, chi phí về thiết kế và xây dựng, chi phí mua sắm và lắp đặt thiết bị và các chi phí khác ghi trong tổng dự toán” [28] 1.2- Khái niệm vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước Đứng trên khía cạnh vai trò của nền kinh tế quốc dân để cho rằng: Vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước là một bộ phận quan trọng của vốn đầu tư trong nền kinh tế quốc dân, đồng thời là một nguồn lực tài chính công rất quan trọng của quốc gia. Dưới giác độ một nguồn lực tài chính quốc gia, vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước là một bộ phận của quỹ ngân sách nhà nước trong khoản chi đầu tư của ngân sách nhà nước hàng năm được bố trí cho đầu tư vào các 6 công trình, dự án xây dựng cơ bản của Nhà nước. Như vậy, có thể hiểu khái niệm vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước như sau: Vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước là vốn của ngân sách nhà nước được cân đối trong dự toán ngân sách nhà nước hàng năm, được Nhà nước dành cho việc đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng, kinh tế, xã hội mà không có khả năng thu hồi vốn cũng như các khoản chi đầu tư khác theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước cho sự phát triển nền kinh tế của một địa phương, của một quốc gia. Đặc điểm của vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách nhà nước Từ khái niệm về vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước, có thể thấy nguồn vốn này nó mang các đặc điểm sau: Thứ nhất, Vốn đầu tư XDCB từ NSNN gắn với hoạt động ngân sách nhà nước nói chung và hoạt động chi ngân sách nhà nước nói riêng, gắn với quản lý và sử dụng vốn theo phân cấp về chi ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển.
Do đó, việc hình thành, phân phối, sử dụng và thanh quyết toán nguồn vốn này được Quốc hội phê chuẩn và các cấp chính quyền (chủ yếu là HĐND tỉnh) phê duyệt hàng năm. Thứ hai: Quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn đầu tư XDCB bị tách rời nhau. Vốn đầu tư XDCB từ NSNN là thuộc quyền sở hữu Nhà nước. Nhà nước là chủ thể có quyền chi phối và định đoạt nguồn vốn ngân sách nhà nước dành cho đầu tư xây dựng cơ bản và là người đề ra chủ trương đầu tư, có thẩm quyền quyết định đầu tư, phê duyệt thiết kế dự toán.
Nhưng quyền sử dụng vốn đầu tư XDCB từ NSNN lại giao cho một tổ chức bằng việc thành lập các chủ đầu tư, các Ban quản lý dự án. Chủ đầu tư và các Ban quản lý dự án là người được Nhà nước giao trách nhiệm trực tiếp quản lý và sử dụng vốn để thực hiện đầu tư theo quy định của pháp luật. Xuất phát từ đặc điểm này mà trong quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN dễ bị thất thoát. Thứ ba: Vốn đầu tư XDCB từ NSNN thường có quy mô lớn.
Các công trình được đầu tư xây dựng từ nguồn vốn này đa số là các công trình lớn, có phạm vi ảnh hưởng sâu rộng đến sự phát triển kinh tế - xã hội; tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các vùng, địa phương hoặc ngành của nền kinh tế. Vì vậy, quản lý và cấp vốn 7 đầu tư XDCB từ NSNN phải thiết lập các biện pháp quản lý và cấp vốn đầu tư phù hợp nhằm đảm bảo tiền vốn được sử dụng đúng mục đích, tránh ứ đọng, thất thoát vốn, đảm bảo quá trình đầu tư xây dựng các công trình được thể hiện liên tục đúng kế hoạch và tiến độ đã được xác định. Thứ tư: Khả năng thu hồi vốn thấp hoặc không thể thu hồi vốn trực tiếp. Mặc dù tất cả các công trình XDCB từ NSNN đều là những công trình có ý nghĩa quan trọng đối với toàn bộ nền kinh tế nhưng khả năng thu hồi vốn lại rất thấp, thậm chí không có khả năng thu hồi vốn trực tiếp.
Do vậy, các dự án này thường không hấp dẫn các thành phần kinh tế khác. Thứ năm: Nhà nước quản lý toàn bộ quá trình đầu tư xây dựng từ việc xác định chủ trương đầu tư, lập dự án, quyết định đầu tư, lập thiết kế, dự toán, lựa chọn nhà thầu, thi công xây dựng đến khi nghiệm thu, bàn giao và đưa công trình vào khai thác sử dụng. Người quyết định đầu tư có trách nhiệm bố trí đủ vốn theo tiến độ thực hiện dự án, nhưng không quá 3 năm đối với dự án nhóm C, không quá 5 năm đối với dự án nhóm B. Từ những đặc điểm trên đây cho thấy: Nếu các chủ đầu tư, các Ban quản lý dự án không ngừng nâng cao tinh thần trách nhiệm, trình độ chuyên môn nghiệp vụ không đáp ứng yêu cầu quản lý; Nhà nước không tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra bằng những cơ chế chính sách ràng buộc trách nhiệm thì thất thoát lãng phí trong đầu tư XDCB từ NSNN là không thể tránh khỏi.
Vai trò của vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước Từ những vấn đề nêu trên cho thấy vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước là nguồn động lực để phát triển kinh tế, vừa là công cụ để điều tiết, điều chỉnh nền kinh tế và định hướng trong xã hội, vai trò đó thể hiện trên các mặt sau: Một là, Vốn đầu tư XDCB từ NSNN góp phần quan trọng vào việc xây dựng và phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật, hình thành kết cấu hạ tầng chung cho đất nước như giao thông, thủy lợi, điện, trường học, trạm y tế… Tốc độ và quy mô tăng đầu tư xây dựng cơ bản góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế quốc dân, tái tạo và tăng cường năng lực sản xuất, tăng năng suất lao động, tăng thu 8 nhập quốc dân và tổng sản phẩm xã hội, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Hai là, Vốn đầu tư XDCB từ NSNN góp phần quan trọng vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hình thành những ngành mới, tăng cường chuyên môn hóa và phân công lao động xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa tập trung vốn đầu tư vào những ngành, lĩnh vực trọng điểm, mũi nhọn như công nghiệp dầu khí, hàng không, hàng hải, đặc biệt là giao thông vận tải đường bộ, đường sắt cao tốc, đầu tư vào một số ngành công nghệ cao. bố trí lại hợp lý có hiệu quả các nguồn lực, tạo thêm nhiều cơ hội việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp trong nền kinh tế. Ba là, Vốn đầu tư XDCB từ NSNN có vai trò định hướng hoạt động đầu tư trong nền kinh tế.
Việc Nhà nước bỏ vốn đầu tư vào kết cấu hạ tầng và các ngành, lĩnh vực có tính chiến lược không những có vai trò dẫn dắt hoạt động đầu tư trong nền kinh tế mà còn góp phần định hướng hoạt động của nền kinh tế. Thông qua đầu tư xây dựng cơ bản vào các ngành, lĩnh vực khu vực quan trọng, vốn đầu tư XDCB từ NSNN có tác dụng kích thích các chủ thể kinh tế, các lực lượng trong xã hội đầu tư phát triển sản xuất – kinh doanh, tham gia liên kết và hợp tác trong xây dựng hạ tầng và phát triển kinh tế - xã hội. Bốn là, Vốn đầu tư XDCB từ NSNN có vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề xã hội như xóa đói, giảm nghèo, phát triển vùng sâu, vùng xa. Thông qua việc đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, các cơ sở sản xuất – kinh doanh và các công trình văn hóa, xã hội góp phần quan trọng vào việc giải quyết việc làm, tăng thu nhập, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
Phân loại vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước Tuỳ theo mục tiêu quản lý của từng loại nguồn vốn đầu tư XDCB từ NSNN mà có các tiêu thức phân loại như sau: 1. Theo phân cấp quản lý ngân sách nhà nước: - Vốn đầu tư của ngân sách nhà nước Trung ương (NSTW) được hình thành từ 9 các khoản thu của NSTW nhằm đầu tư cho các dự án phục vụ cho lợi ích quốc gia. Nguồn vốn này được giao cho các bộ, ngành quản lý thực hiện; - Vốn đầu tư của ngân sách nhà nước Địa phương (NSĐP) được hình thành từ các khoản thu của NSĐP nhằm đầu tư cho các dự án phục vụ cho lợi ích của từng địa phương đó. Nguồn vốn này thường được giao cho các cấp chính quyền địa phương quản lý thực hiện.