phần mở đầu, kết luận và kiến nghị. Luận văn được kết cấu gồm 3 chương với nội dung chính: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về thuế thu nhập doanh nghiệp và quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp Chƣơng 2: Phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại Cục Thuế Quảng Ninh Chƣơng 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại Cục Thuế Quảng Ninh. 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP VÀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 1. Lý luận cơ bản về thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) 1.
Khái niệm thuế thu nhập doanh nghiệp Trước khi xem xét về thuế TNDN, chúng ta có thể tìm hiểu thêm một số vấn đề chung về thuế cũng như nguồn gốc ra đời của thuế. Thuế ra đời gắn liền với lịch s hình thành và phát triển của Nhà nước, từng bước hoàn thiện vai trò và chức năng của Nhà nước đối với nền kinh tế. Nhà nước ra đời đòi hỏi phải có một bộ máy hành chính để quản lý điều hành và bảo vệ đất nước, vì vậy cần phải có một nguồn tài chính thường xuyên phục vụ cho các hoạt động này. Do đó thuế ra đời với tư cách là một công cụ tài chính để tạo lập nguồn thu nhằm duy trì hoạt động của bộ máy hành chính Nhà nước.
Xã hội ngày càng phát triển đi lên và Nhà nước cũng đã dần dần hoàn thiện được chức năng và nhiệm vụ của mình. Nhà nước không chỉ thực hiện chức năng điều hành và bảo vệ đất nước mà còn là tác nhân chủ đạo trong việc phát triển kinh tế đất nước. Trong đó, thuế đóng góp một phần rất quan trọng với chức năng là công cụ bảo đảm nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước và là công cụ vĩ mô quan trọng của nhà nước trong việc điều tiết đối với nền kinh tế. Cho đến nay trên thế giới vẫn chưa có thống nhất tuyệt đối về khái niệm thuế.
Đứng trên các góc độ khác nhau theo các quan điểm của các nhà kinh tế khác nhau thì có định nghĩa về thuế khác nhau. Theo nhà kinh tế học Gaston Jeze trong cuốn “Tài chính công” đưa ra một định nghĩa tương đối cổ điển về thuế: “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà Nước”(Trần Bình Minh, 2005, tr. Trên góc độ phân phối thu nhập: “Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền tệ tập 5 trung của nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước” (Trần Bình Minh, 2005, tr. Trên góc độ người nộp thuế: “Thuế là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho nhà nước theo luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước” (Trần Bình Minh, 2005, tr.
Trên góc độ kinh tế học : “Thuế là một biện pháp đặc biệt, theo đó, nhà nước s dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của nhà nước.” (Trần Bình Minh, 2005, tr. Theo từ điển tiếng việt : “Thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tuỳ theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp…buộc phải nộp cho nhà nước theo mức quy định” (Trần Bình Minh, 2005, tr. Các nhận xét, quan điểm trên đều đúng, nhưng đứng trên lập trường mỗi quan điểm đều chỉ là một khía cạnh về thuế. Vì vậy, sau khi xem xét, ta thấy chúng có những điểm chung và có thể định nghĩa ngắn gọn về thuế như sau: “Thuế là khoản thu nộp mang tính chất bắt buộc mà các tổ chức cá nhân phải nộp cho Nhà nước khi có đủ những điều kiện nhất định”(Phạm Thị Giang Thu, 2008, tr.
10) Căn cứ vào tính chất của nguồn tài chính động viên vào ngân sách Nhà nước, thuế được phân làm 2 loại: thuế trực thu và thuế gián thu. - Thuế gián thu là loại thuế mà Nhà nước s dụng nhằm động viên một phần thu nhập của người tiêu dùng hàng hóa, s dụng dịch vụ thông qua việc thu thuế đối với người sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Tính chất gián thu thể hiện ở chỗ người nộp thuế và người chịu thuế không đồng nhất với nhau. Thuế gián thu là một bộ phận cấu thành trong giá cả hàng hoá, dịch vụ do chủ thể hoạt động sản xuất, kinh doanh nộp cho Nhà nước nhưng người tiêu dùng lại là người phải chịu thuế.
Ở nước ta thuộc loại thuế này bao gồm: Thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt. 6 - Thuế trực thu là loại thuế mà Nhà nước thu trực tiếp vào phần thu nhập của các pháp nhân hoặc thể nhân. Tính chất trực thu thể hiện ở chổ người nộp thuế theo quy định của pháp luật đồng thời là người chịu thuế. Thuế trực thu trực tiếp động viên, điều tiết thu nhập của người chịu thuế.
Thuế TNDN là một sắc thuế thuộc thuế trực thu, nó được hầu hết các quốc gia trên thế giới s dụng vì tính hiệu quả và khả năng bao quát nguồn thu. Mỗinước với những đặc diểm kinh tế xã hội khác nhau thì việc áp dụng thuế TNDN ở từng nước cũng khác nhau. Tuy nhiên, ta có thể đưa ra một khái niệm như sau: “Thuế TNDN là một loại thuế đánh vào thu nhập phát sinh của cơ sở kinh doanh trong một khoảng thời gian nhất định thường là một kỳ kinh doanh”(Tổng Cục Thuế, 2014, tr. Đặc điểm thuế thu nhập doanh nghiệp Bản chất của thuế TNDN được thể hiện bởi các thuộc tính bên trong vốn có của nó.
Những thuộc tính đó có tính ổn định tương đối qua các giai đoạn phát triển. Nghiên cứu về thuế TNDN, người ta nhận thấy thuế thu nhập doanh nghiệp có những đặc trưng riêng để phân biệt với các sắc thuế và các công cụ tài chính khác như sau: Thứ nhất, thuế TNDN có đặc điểm là một loại thuế trực thu. T nh chất trực thu của loại thuế này được biểu hiện ở sự đồng nhất giữa đối tượng nộp thuế và đối tượng chịu thuế. NNT theo luật cũng là người trả thuế cuối cùng trong một chu kỳ sản xuất kinhdoanh.
Nói một cách khác, thuế TNDN làm cho khả năng và cơ hội chuyển dịch gánh nặng thuế cho người khác trở nên khó khăn hơn. Thứ hai, thuế TNDN là một khoản chuyển giao của NNT cho Nhà nư c mang t nh bắtbuộc phi hình sự. Tính bắt buộc phi hình sự là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế nói chung và thuếTNDN nói riêng, nó phân biệt thuế TNDN với các hình thức huy động tài chính khác của Ngân sách Nhà nước. 7 Đặc điểm này xác định rõ nội dung kinh tế của thuế TNDN là những quan hệ tiền tệ được hình thành một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt.
Việc động viên mang tính bắt buộc của Nhà nước. Phân phối mang tính chất bắt buộc dưới hình thức thuế TNDN là một phương thức phân phối của Nhà nước mà kết quả của quá trình đó là một bộ phận thu nhập của doanh nghiệp được chuyển giao cho Nhà nước mà không kèm theo một sự cấp phát hoặc những quyền lợi nào khác cho NNT. Thứ ba, việc chuyển giao thu nhập dư i hình thức thuế thu nhập doanh nghiệp không mang t nh chất hoàn trả trực tiếp. Tính chất không hoàn trả trực tiếp của thuế TNDN được biểu hiện trên các khía cạnh: Một là, sự chuyển giao thu nhập thông qua thuế không mang tính đối giá, nghĩa là mức thuế mà các tầng lớp trong xã hội chuyển giao cho Nhà nước không hoàn toàn dựa trên mức độ NNT thừa hưởng những dịch vụ và hàng hoá công cộng do Nhà nước cung cấp.
NNT cũng không có quyền đòi hỏi Nhà nước phải cung cấp hàng hoá dịch vụ công cộng trực tiếp cho mình mới phát sinh khoản chuyển giao thu nhập cho Nhà nước, mặt khác mức độ cung cấp dịch vụ công cộng của Nhà nước cũng không nhất thiết ngang bằng mức độ chuyển giao. Hai là, khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế TNDN không được hoàn trả trực tiếp, có nghĩa là NNT suy cho cùng sẽ nhận được một phần các dịch vụ công cộng mà Nhà nước cung cấp chung cho cả cộng đồng giá trị phần dịch vụ đó không nhất thiết tương đồng với khoản tiền thuế mà họ nộp cho Nhà nước. Thứ tư, việc chuyển giao thu nhập dư i hình thức thuế TNDN được quy định trư c bằng pháp luật. Đặc điểm này, một mặt thể hiện tính pháp lý cao của thuế TNDN, mặt khác phản ánh sự chuyển giao thu nhập này không mang tính tuỳ tiện mà dựa trên những cơ sở pháp luật nhất định và đã được xác định trước trong Luật thuế TNDN.
Những tiêu thức thường được xác định trong Luật thuế TNDN là người chịu thuế, người nộp thuế, mức thuế phải nộp, thời hạn cụ thể và những chế tài mang tính cưỡng chế khác. Các khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế TNDN chịu những ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội trong những thời kỳ nhất định. 8 Yếu tố kinh tế tác động đến thuế TNDN thường là mức độ tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân, giá cả, thị trường, sự biến động của Ngân sách Nhà nước… Yếu tố chính trị, xã hội tác động đến thuế TNDN thường là thể chế chính trị của Nhà nước, tâm lý tập quán của các tầng lớp dân cư, truyền thống văn hoá… Các khoản chuyển giao thuế thu nhập dưới hình thức thuế thu nhập doanh nghiệp chỉ được giới hạn trong phạm vi biên giới quốc gia với quyền lực pháp lý của Nhà nước đối với con người và tài sản. Vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp Thứ nhất, thuế TNDN là nguồn thu quan trọng đối với NSNN: điều này được thể hiện ở phạm vi áp dụng của thuế TNDN rất rộng, gồm các tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế không phân biệt thành phần kinh tế, không phân biệt là doanh nghiệp được thành lập theo pháp luật Việt Nam hay pháp luật nước ngoài mà chỉ quan tâm đến khoản thu nhập chịu thuế đó có phát sinh tại Việt Nam hay không.