CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI KHU VỰC KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH 1. TỔNG QUAN VỀ THUẾ VÀ KHU VỰC KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH 1. Tổng quan về thuế a. Khái niệm, bản chất, chức năng và vai trò của thuế Ø Khái niệm về thuế: Cho đến nay, trong giới các học giả và trên các sách báo kinh tế thế giới vẫn chưa có quan điểm thống nhất về khái niệm thuế.
Nhìn chung các quan điểm của các nhà kinh tế khi đưa ra khái niệm về thuế mới chỉ nhìn nhận từ những khía cạnh khác nhau của thuế, chưa phản ánh đầy đủ bản chất chung của phạm trù thuế. Chẳng hạn theo các nhà kinh điển thì thuế được quan niệm rất đơn giản: “ Để duy trì quyền lực công cộng cần phải có sự đóng góp của những người công dân cho Nhà nước đó là thuế má” [17, tr.522] Càng về sau này, khái niệm về thuế càng được bổ sung và hoàn thiện hơn. Trong cuốn từ điển kinh tế của hai tác giả người Anh là Chrisopher Pass và Bryan Lower cho rằng: “ Thuế là một biện pháp của chính phủ đánh trên thu nhập của cải và vốn nhận được của các cá nhân hay doanh nghiệp (thuế trực thu), trên việc chi tiêu về hàng hoá và dịch vụ (thuế gián thu) và trên tài sản. Một khái niệm về thuế tương đối hoàn chỉnh được nêu lên trong cuốn "Economics" của hai nhà kinh tế Mỹ, K.
Bryu như sau: “ Thuế là một khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặc chuyển giao bằng hàng hóa, dịch vụ) của các công ty và các hộ gia đình cho chính phủ, mà trong sự trao đổi đó họ không nhận được một cách trực tiếp hàng hóa hoặc dịch vụ nào cả, khoản nộp đó không phải là tiền phạt mà toà án tuyên phạt do Luan van 9 hành vi vi phạm pháp luật” [39, tr.10] Các khái niệm về thuế tuy có các cách diễn đạt khác nhau song các nhà kinh tế đều nhất trí cho rằng: - Nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các quan hệ tiền tệ giữa Nhà nước với các pháp nhân và thể nhân, không mang tính hoàn trả trực tiếp. - Những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt – việc chuyển giao thu nhập có tính bắt buộc theo mệnh lệnh của nhà nước. - Các pháp nhân và thể nhân chỉ phải nộp cho Nhà nước các khoản thuế đã được pháp luật qui định. Từ những phân tích những quan niệm về thuế nói trên, chúng ta có thể đưa ra một định nghĩa tổng quát về thuế như sau: “ Thuế là một hình thức đóng góp theo nghĩa vụ do luật định đối với các tổ chức kinh tế và mọi công dân, nhằm đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.
Thuế không mang tính chất hoàn trả trực tiếp cho người nộp. Nó được Nhà nước sử dụng như một công cụ kinh tế khách quan nhằm huy động nguồn lực cho Ngân sách Nhà nước, điều chỉnh kinh tế và điều hòa thu nhập”.28] Ø Bản chất của thuế: Thuế là một công cụ tài chính của Nhà nước, được sử dụng để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung nhằm sử dụng cho mục đích công cộng. Bản chất của thuế được thể hiện bởi các thuộc tính bên trong, vốn có của thuế. Những đặc điểm đó là: - Thuế là một khoản đóng góp mang tính bắt buộc gắn liền với quyền lực của Nhà nước (NN).
Nhà nước dựa vào quyền lực to lớn của mình để ấn định các thứ thuế, bắt buộc người nộp thuế phải thực hiện để NN có nguồn thu ổn định, thường xuyên, đảm bảo các khoản chi cho hoạt động của NN. - Thuế là một hình thức chuyển giao thu nhập của các tầng lớp trong xã Luan van 10 hội cho Nhà nước, là khoản đóng góp không mang tính chất hoàn trả trực tiếp cho người nộp. Nó vận động một chiều, không phải là khoản thù lao mà người nộp thuế phải trả cho Nhà nước do được hưởng các dịch vụ do Nhà nước cung cấp. - Thuế là hình thức đóng góp được quy định trước.
Dĩ nhiên thuế mang tính giai cấp của Nhà nước đã ban hành ra nó. Mỗi Nhà nước lại mang tính giai cấp khác nhau nên khi vận dụng các đặc điểm vốn có của thuế đều phải tìm cách bảo vệ lợi ích của giai cấp mà Nhà nước đại diện. Ø Chức năng của thuế: Căn cứ vào nội dung cùng với quá trình ra đời, tồn tại và phát triển của thuế, chúng ta thấy rằng thuế thực hiện các chức năng sau đây: - Chức năng phân phối và phân phối lại: Đây là chức năng cơ bản, đặc thù của thuế. Ngay từ lúc ra đời, thuế là phương tiện dùng để động viên nguồn tài chính vào ngân sách Nhà nước (có ở tất cả các kiểu Nhà nước).
Thông qua chức năng này, các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước được hình thành để đảm bảo cơ sở vật chất cho sự hoạt động thường xuyên và tồn tại của Nhà nước. Bằng chính chức năng này, Nhà nước tiến hành tham gia phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân trong xã hội. Trong một chừng mực nhất định, chức năng phân phối và phân phối lại đã tạo điều kiện cho sự ra đời và phát huy tác dụng chức năng điều tiết của thuế. - Chức năng điều tiết đối với nền kinh tế: Chức năng điều tiết của thuế được nhận thức và sử dụng rộng rãi từ những năm đầu của thế kỷ XX và gắn liền với vai trò điều chỉnh của Nhà nước đối với nền kinh tế.
Việc tăng cường vai trò kinh tế - xã hội của Nhà nước dẫn đến tốc độ chi tiêu của Nhà nước ngày càng tăng lên và hậu quả tất yếu là đòi hỏi Nhà nước phải mở rộng quỹ tài chính Nhà nước, hình thành chủ Luan van 11 yếu từ việc thu thuế. Nhu cầu về nguồn tài chính càng lớn thì Nhà nước cần phải tăng cường các chức năng của thuế để tác động một cách có hiệu quả đến nền kinh tế quốc dân. Ðiều đó có nghĩa là nội dung điều tiết theo một mục tiêu nào đó đã được dự liệu trước vào trong quá trình huy động tập trung nguồn tài chính. Bằng cách sử dụng nó để kích thích hoặc kìm hãm tốc độ tăng trưởng, tăng cường hoặc làm yếu đi sự tích lũy tiết kiệm, mở rộng hoặc thu hẹp nhu cầu có khả năng thanh toán của dân cư, đẩy nhanh hoặc làm chậm lại chu kỳ khủng hoảng kinh tế, Nhà nước đã thực hiện điều tiết các hoạt động kinh tế - xã hội trong phạm vi quốc gia.
Ø Vai trò của thuế: - Thuế là khoản thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước Để có một nền tài chính Quốc gia lành mạnh chủ yếu phải dựa vào nguồn thu từ nội bộ nền kinh tế quốc dân. Trong tất cả các nguồn, thuế là nguồn thu chiểm tỷ trọng cao nhất trong tổng số thu NSNN. Đây là nguồn thu ổn định nhất, được kế hoạch hoá trên cơ sở dự báo kế hoạch và tiềm năng phát triển kinh tế của đất nước trong một năm. Nguồn thu chủ yếu từ thuế đã góp phần tích cực giảm bội chi ngân sách, giảm lạm phát, ổn định kinh tế - xã hội và chuẩn bị điều kiện và tiền đề cho việc phát triển đất nước lâu dài.
Đối với nước ta, số thu về thuế trong tổng thu ngân sách chiếm tỷ trọng lớn và ngày càng tăng. Trong năm 2000, tỷ trọng thuế và phí trong tổng thu NSNN là 71,8%, các năm gần đây đã tăng lên trên 90% và tỷ lệ điều tiết từ GDP hàng năm khoảng 24-25% [3]. - Thuế là công cụ quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước Thuế là công cụ chủ yếu của Nhà nước dùng để quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển, mở rộng lưu thông hàng hóa, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Sự điều tiết của Nhà nước thông qua thuế gồm hai mặt: khuyến khích Luan van 12 và hạn chế.
Điều đó được thể hiện ra trong việc xây dựng cơ cấu các loại thuế và mối quan hệ giữa chúng cũng như việc xác định thuế suất, chế độ miễn - giảm thuế phù hợp với điều kiện thực tế. Khuyến khích đối với những ngành nghề, những hoạt động SX, KD cần thiết cho nền kinh tế quốc dân hoặc những ngành nghề, những hoạt động SX, KD phục vụ cho đại đa số quần chúng nhân dân thì áp dụng thuế suất thấp. Hạn chế, thu hẹp những ngành nghề không có lợi cho sự phát triển của nền kinh tế, cho nhu cầu tiêu dùng của nhân dân hoặc những ngành nghề ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục, đến sức khỏe của nhân dân thì áp dụng thuế suất cao. - Thuế góp phần đảm bảo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế góp phần thực hiện công bằng xã hội.
Hệ thống pháp luật thuế mới được áp dụng thống nhất chung cho các ngành nghề, các thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư nhằm đảm bảo sự bình đẳng và công bằng xã hội về quyền lợi và nghĩa vụ đối với mọi thế nhân và pháp nhân. Sự bình đẳng và công bằng được thể hiện thông qua chính sách động viên giống nhau giữa các đơn vị, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế có những điều kiện hoạt động giống nhau. Vai trò điều tiết thu nhập của thuế thể hiện ở sự tác động của pháp luật thuế đối với các quan hệ phân phối và sử dụng thu nhập trong xã hội. Sự vận động của nền kinh tế theo cơ chế thị trường đòi hỏi NN phải sử dụng đồng bộ nhiều công cụ khác nhau để khắc phục những sự mất cân đối về mặt xã hội trong đó có mất cân đối về thu nhập.
NN sử dụng pháp luật thuế làm công cụ để điều hòa vĩ mô thu nhập trong xã hội. Sự điều tiết này thể hiện ở chỗ thông qua các quy định của pháp luật thuế, NN thực hiện việc điều tiết thu nhập của các ĐTNT và các thành viên trong xã hội. Sự thay đổi của pháp luật thuế về cơ cấu các loại thuế trong hệ thống thuế, vế thuế suất. đều có tác động đến thu nhập và sử dụng thu nhập trong xã hội.