CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ NỢ VÀ CƯỠNG CHẾ NỢ THUẾ 1. NHỮNG CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI QUẢN LÝ NỢ VÀ CƯỠNG CHẾ NỢ THUẾ 1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài Quản lý nợ thuế và CCNT là một vấn đề được khá nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Trên thế giới đã có một số công trình khoa học của các nước nghiên cứu về QLNT và CCNT hoặc có liên quan đến QLNT và CCNT dưới các khía cạnh khác nhau nhưng có thể phân làm 2 nhóm: (i) Nhóm công trình khoa học nghiên cứu lý luận về quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế; (ii) Nhóm công trình khoa học nghiên cứu thực chứng về QLNT và CCNT.
Cụ thể như sau: 1. Nhóm công trình khoa học nghiên cứu lý luận về quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế - Cục Thuế vùng Tokyo (2016), Cơ chế quản lý và báo cáo thông tin đối tượng nộp thuế [18]. Nghiên cứu đã lý giải “Quản lý thông tin ĐTNT” được quản lý trên hệ thống thu thuế, thống nhất tập trung trên hệ thống thông tin về đối tượng nộp thuế; được quản lý trên bản cứng theo từng ĐTNT như văn bản trả lời để tham chiếu. Dữ liệu được quản lý là địa chỉ/tên, số tiền chậm nộp, quá trình đã tiếp xúc trực tiếp, kết quả xử lý, thông tin tài sản, tình trạng kê khai,…Về vai trò của “Hệ thống thu thuế (KSK)”, nghiên cứu khái niệm: KSK là hệ thống cốt lõi của CQT quốc gia Nhật Bản, nhằm hiện đại hóa và nâng cao hiệu quả quy trình xử lý nghiệp vụ trong hành chính thuế.
Đồng thời, nghiên cứu cũng luận giải về “Cơ chế báo cáo liên quan đến nghiệp vụ thu thuế”. Làm rõ nội dung yêu cầu báo cáo nghiệp vụ thu thuế là báo cáo dữ liệu con số và kế hoạch xử lý chậm nộp thuế hàng năm làm cơ sở CQT tiến hành quản lý nghiệp vụ theo tháng. Nghiên cứu này xác định quy trình về thủ tục thu thuế, gồm 11 bước: Bước 1-Đôn đốc, được thực hiện trong trường hợp NNT không nộp thuế khi đến hạn phải nộp; Bước 2-Điều tra xác minh tài sản (tài sản nợ/động sản/bất động sản): nhằm phát hiện tài sản là đối tượng xử lý chậm nộp, đánh giá/nhận định tình trạng nợ động thuế; Bước 3 - Tịch biên tài sản (tài sản 15 nợ/động sản/bất động sản), là thủ tục đầu tiên xử lý chậm nộp mang tính CCNT sau thông qua thủ tục phát mại/bắt nợ; Bước 4-Phát mại/Phân chia tài sản bị tịch biên (tài sản nợ/động sản/bất động sản), là biện pháp xử lý mang tính cưỡng chế, gồm 02 hình thức: Phát mại động sản/bất động sản và bắt nợ. Bước 5-Mở rộng nghĩa vụ nộp thuế,trường hợp NNT chuyển nhượng tài sản miễn phí (cho/tặng) và không thể tịch biên để thu được khoản thuế nợ; khi CQT cho rằng không đủ điều kiện hay việc chuyển nhượng miễn phí này thì có thể tính thuế theo nghĩa vụ nộp thuế thứ cấp đối với người nhận chuyển nhượng tài sản đó.
Bước 6-Hoãn thi hành, gồm 02 hình thức: Hoãn phát mại (theo đề nghị của NNT hoặc theo quyền hạn); hoãn nộp thuế (trường hợp thiệt hại do thiên tai, bệnh tật, dừng/nghỉ kinh doanh tạm thời không thể nộp thuế). Bước 7-Dừng xử lý nộp chậm, NNT được dừng bị xử lý nộp chậm tiền thuế khi: Không có tài sản để thi hành xử lý nộp chậm, khả năng gây khó khăn cho cuộc sống nếu bị xử ký nộp chậm, khi tài sản thi hành xử lý nộp chậm và địa chỉ của NNT không rõ ràng. Bước 8-Điều tra khiếu nại, là chế độ nhằm bảo vệ quyền lợi và lợi ích của NNT khi thấy quyết định xử lý và hành vi thực hiện quyền hạn không hợp pháp hoặc không chính đáng. Bước 9-Khởi tố bị cáo, Nhà nước sẽ khởi tố đối tượng nợ thuế và sẽ thực hiện cưỡng chế bắt nợ tài sản của NNT trên cơ sở phán quyết của Tòa án.
Bước 10-Xử phạt, nếu NNT với mục đích tránh phải thi hành quyết định xử lý chậm nộp thuế đối với tài sản của mình đã có kế hoạch tự che dấu tài sản để không phải thi hành quyết định xử lý chậm nộp thuế, CQT sẽ khởi tố ra cơ quan điều tra. Bước 11-Hỗ trợ truy thu, là cơ chế các CQT của các nước hỗ trợ nhau thu nợ thuế giữa các nước có hiệp định thuế nhằm giải quyết hạn chế trong việc thực thi quyền cưỡng chế để thu nợ thuế trong phạm vi một quốc gia. - Joel Slemrod (2016), Tax Compliance and Enforcement: New Research and Its Policy Implications, Ross School of Business Working Paper No. Đề tài đã phân tích các công trình gần đây của một số nhà khoa học trên thế giới về sự tuân thủ thuế thu nhập và các biện pháp chế tài ở các nước đang phát triển, theo đó: Cần xây dựng các đạo luật có thể cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế.
Bộ luật tích hợp cho phép NNT có thể sử dụng những thủ thuật tránh thuế, nợ thuế hay những bộ luật mà qua đó cơ quan thu thuế khó lòng khám phá, xác 16 minh các giao dịch thuế hay những khoản nợ thuế quá hạn, sẽ làm cho việc cưỡng chế tuân thủ trở nên khó khăn. Việc xem xét kỹ lưỡng những vấn đề này là yếu tố quan trọng nhất trong việc xây dựng các biện pháp chế tài cho những bộ luật được ban hành. Tác giả luận giải một số biện pháp các nước đã sử dụng trong quá khứ cũng như hiện tại; đó là việc xoá nợ thuế; việc thiết lập một danh sách tổng thể những NNT và cưỡng chế thi hành các biện pháp phạt nghiêm khắc đối với việc không kê khai thuế, nợ thuế; hoạt động khấu trừ tại nguồn và kê khai tiền lương, lãi vay và cổ tức; qui định những khoản phạt lớn hơn cho việc trì hoãn nộp các khoản thuế còn nợ. Nghiên cứu này cho rằng, nếu các khoản phạt nghiêm khắc qui định trong luật nhưng không thực thi có thể ảnh hưởng tiêu cực sự tuân thủ thuế, thông qua làm vô hiệu hóa luật pháp.
Những khoản phạt nghiêm minh đối với việc không tuân thủ thuế nếu được thực thi trên thực tế khi hành vi không tuân thủ bị phát hiện sẽ có tác động ngăn chặn tình trạng nợ đọng thuế. Tuy vậy, nếu các biện pháp chế tài quá nghiêm khắc, hay nếu cưỡng chế thi hành không thường xuyên có thể làm giảm sự tuân thủ thuế. Nhóm công trình khoa học nghiên cứu thực chứng về công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế - OECD (2014), Working Smarter in Tax Debt Management, OECD Publishing [88]. Báo cáo nghiên cứu tập trung vào nội dung QLNT và đặc biệt nhấn mạnh việc thanh toán trong quá trình tuân thủ.
Theo nghiên cứu của 14 quốc gia để tìm hiểu về nâng cao hiệu quả trong thực hiện thu nợ thuế đã đưa ra mô hình thu thuế hiện đại như sau: Thứ nhất, phân tích tiên tiến: trước đây các CQT tập trung vào quản lý các khoản nợ thuế, không phải người nợ thuế; việc áp dụng công cụ phân tích tiên tiến, có thể sử dụng tất cả các thông tin thu thập từ NNT để phân tích và xác định những người nợ thuế và giúp các cơ quan QLNT có sự can thiệp đúng lúc. Điều này sẽ giúp giảm các chi phí can thiệp không hiệu quả và cải thiện việc thu thuế. Thứ hai, chiến lược đối xử: để thu nợ thuế thì có rất nhiều biện pháp, từ các biện pháp mềm được thiết kế để ngăn chặn NNT nợ thuế lần đầu đến các biện pháp mạnh CCNT. Báo cáo cũng mô tả một số lượng lớn các biện pháp thu hồi nợ thuế được áp dụng bởi các nước thành viên FTA (Hiệp định thương mại tự do).
Thứ 17 ba, thành lập Trung tâm dịch vụ: Rất nhiều cơ quan thu thuế sử dụng các Trung tâm cung cấp dịch vụ và thông tin tới NNT. Kinh nghiệm cho thấy, các trung tâm này giúp nâng cao hiệu quả thực thi và thu thuế. Thứ tư, tổ chức QLNT, theo Báo cáo nghiên cứu QLNT hiện đại yêu cầu một cơ cấu tổ chức và chỉ số đánh giá thực hiện công việc đúng đảm bảo hướng tới mục tiêu và kết quả đầu ra. Số lượng NNT có nguồn thu nhập từ nước ngoài và dịch chuyển ra nước ngoài ngày càng tăng lên, vì vậy cần phải có sự quản lý thu thuế đối với những khoản thu thuế từ nước ngoài.
Nghiên cứu đưa ra lý thuyết và bằng chứng về việc vi phạm thực thi pháp luật thuế với hành vi nợ thuế. Theo đó, CQT không chỉ nên xử phạt đối với hành vi nợ thuế mà còn cần nêu tên người nợ thuế nên phương tiện truyền thông đại chúng. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, khi CQT tập trung vào phúc lợi cá nhân cũng như thu nhập, chính sách tối ưu được đưa ra là kết hợp giữa hình phạt về tài chính và hình phạt về danh dự. Điều này được minh chứng qua thử nghiệm với 35.000 tội phạm về thuế ở 3 Bang của Hoa Kỳ với số nợ khoảng nửa tỷ USD.
Khi gia tăng cả hình phạt về tài chính và hình phạt về danh dự sẽ làm giảm việc nợ thuế. Tuy nhiên, việc này cũng còn phụ thuộc vào thu nhập và các yếu tố khác của người nợ thuế. - Margherita Ebraico và Savino Rua (2015), An Assessment of the Performance of the Italian Tax Debt Collection System, European Commission [85]. Nghiên cứu ước tính mức độ nợ thuế ở Italy và xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc này.
Kết quả cho thấy mức độ nợ thuế này gần với mức trung bình của EU và có xu hướng giảm từ 2008. Không có sự khác biệt nhiều trong việc QLNT của Itally với các nước thành viên EU. Việc sử dụng công nghệ trong việc QLNT là xu thế được coi trọng. - Recovery Team, Revenues (2015) [90], Council tax Debt Recovery Procedure.
Nghiên cứu đã đưa ra các biện pháp, cách thức nhằm hoàn thiện thủ tục thu thuế hội đồng của Cơ quan Hội đồng, đảm bảo quá trình thu thuế hội đồng chưa trả trong thời hạn cho phép được diễn ra hiệu quả, công bằng, tương xứng và đồng nhất. Nghiên cứu đã đề xuất hoàn thiện 03 thủ tục: Thủ tục trước khi có lệnh nghĩa vụ trả nợ thuế: Một là, thông cáo yêu cầu, đầu năm tài chính hoặc khi 01 tài 18 khoản thuế hội đồng mới được thành lập, thông báo yêu cầu sẽ được gửi đến cho NNT ghi rõ mức thuế hội đồng nợ trong năm thu thuế, lượng tiền cùng thời hạn nộp của mỗi đợt.