CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ NỢ THUẾ VÀ PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ NỢ THUẾ 1. Những vấn đề lý luận về xử lý nợ thuế 1. Khái niệm, đặc trưng của nợ thuế và xử lý nợ thuế 1. Khái niệm và đặc trưng của nợ thuế Theo Từ điển Việt Nam, “nợ” được giải nghĩa là “số tiền phải trả, bổn phận phải đền” [25, tr.
Theo cách hiểu thông thường, “nợ” được quan niệm là nghĩa vụ trả tiền của người này đối với người khác, phát sinh từ một hợp đồng (ví dụ: nghĩa vụ trả tiền trong hợp đồng mua bán hàng hóa, hợp đồng vay tiền) hoặc giao dịch phi hợp đồng (ví dụ: trả tiền bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, trả tiền thuế, lệ phí, phí…). Khái niệm “nợ” luôn phản ánh một quan hệ tài sản phát sinh giữa hai bên, gọi là bên mắc nợ (con nợ) và bên có quyền đòi nợ (chủ nợ). Bên mắc nợ (con nợ) là người có nghĩa vụ phải trả một khoản tiền cho bên chủ nợ theo thỏa thuận (ví dụ trường hợp nợ tiền vay trong hợp đồng vay tiền) hoặc theo quy định của pháp luật (ví dụ: bên gây thiệt hại có nghĩa vụ trả tiền bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo phán quyết của Tòa án hoặc theo thỏa thuận của hai bên). Bên vay nợ là người có nghĩa vụ trả một số tiền xác định cho bên chủ nợ theo phương thức do các bên thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.
Theo Từ điển Luật học, “thuế” được định nghĩa là “khoản thu ngân sách nhà nước không hoàn trả và không mang tính đối giá, do cơ quan quyền lực Nhà nước quy định” [21, tr. 6 Theo những cách giải nghĩa trên đây, “nợ thuế” được xem như là một loại nợ gắn liền với các quan hệ pháp luật thuế phát sinh giữa một bên là Nhà nước (người thu thuế) với bên kia là tổ chức, cá nhân (người nộp thuế). Theo đó, người nộp thuế có nghĩa vụ phải trả một khoản tiền nhất định (gọi là thuế hay tiền thuế) cho Nhà nước, trên cơ sở quy định của pháp luật thuế [26, tr. Tương tự như bất kỳ loại nợ nào, nợ thuế cũng có bản chất là một loại nghĩa vụ tài sản mà chủ thể này phải thực hiện đối với chủ thể là Nhà nước, dựa trên các căn cứ pháp lý nhất định do pháp luật quy định [24, tr.
Từ sự phân tích trên đây, có thể đưa ra khái niệm về nợ thuế như sau: Nợ thuế là khoản tiền mà người nộp thuế có nghĩa vụ phải nộp vào ngân sách Nhà nước theo trình tự, thủ tục, thời gian, địa điểm và mức thuế do pháp luật quy định. Xét về phương diện học thuật, nợ thuế có những đặc trưng cơ bản sau đây để phân biệt với các loại nợ khác: Thứ nhất ,về chủ thể. Nợ thuế luôn gắn liền với hai chủ thể đặc trưng là Nhà nước – người thu thuế (với tư cách là chủ nợ) và tổ chức, cá nhân – người nộp thuế (với tư cách là bên thiếu nợ). Với tư cách là bên chủ nợ, Nhà nước có quyền yêu cầu người nộp thuế phải thực hiện nghĩa vụ nộp một khoản thuế cho mình trong một thời hạn nhất định và theo mức do pháp luật quy định.
Thuế được ghi nhận như một nguyên tắc có tính hiến định. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội Việt Nam đã quy định: “Mọi người có nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật” [1. Còn với tư cách là bên mắc nợ, người nộp thuế phải thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đầy đủ, đúng hạn đối với chủ nợ là Nhà nước theo trình tự, thủ tục về quản lý thuế do pháp luật về thuế quy định [25, tr. 7 Về lý thuyết, quyền chủ nợ của Nhà nước và nghĩa vụ của người nộp thuế phát sinh kể từ thời điểm Nhà nước chấp nhận số tiền thuế do người nộp thuế kê khai (đối với trường hợp người nộp thuế kê khai) hoặc thời điểm Nhà nước ấn định số tiền thuế mà người nộp thuế phải thực hiện đối với Nhà nước theo quy định của pháp luật (đối với trường hợp Nhà nước ấn định thuế).
Thứ hai, về căn cứ phát sinh nợ thuế. Khác với các khoản nợ phát sinh từ hợp đồng vốn do các bên thỏa thuận mà có, nợ thuế phát sinh dựa trên các quy định của pháp luật và không phụ thuộc vào ý chí đơn phương của một bên hay sự thống nhất ý chí giữa các bên tham gia quan hệ pháp luật thuế. Các quy định làm phát sinh nợ thuế bao gồm quy định về chủ thể nộp thuế; đối tượng chịu thuế; căn cứ tính thuế; các trường hợp miễn, giảm thuế hoặc hoàn thuế [28, tr. Ngoài ra, nếu hiểu theo nghĩa rộng thì căn cứ làm phát sinh nợ thuế và thực hiện việc thanh toán nợ thuế còn bao gồm các quy định về thủ tục đăng ký thuế, kê khai thuế, nộp thuế, xét miễn giảm, hoàn thuế, giải quyết khiếu nại và giải quyết vụ kiện về thuế [29, tr.45] … Thứ ba, về cấu trúc của nợ thuế.
Trên nguyên tắc, nợ thuế được hiểu bao gồm tất cả các khoản nợ về thuế hoặc nợ phát sinh từ nợ thuế mà người nộp thuế có nghĩa vụ phải thanh toán cho chủ nợ là Nhà nước trên cơ sở quy định của pháp luật. Theo quan niệm đó, nợ thuế sẽ bao gồm: - Số tiền thuế mà người nộp thuế phải nộp vào ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật thuế; - Các khoản nợ khác phát sinh từ nợ thuế như tiền phạt và tiền bồi thường thiệt hại do vi phạm pháp luật thuế [28, tr. 8 Thứ tư, về vị trí, vai trò của nợ thuế trong trật tự ưu tiên trả nợ. Theo quan điểm truyền thống, nợ thuế là một trong số ít các khoản nợ được ưu tiên thực hiện trước các khoản nợ thông thường trong các giao dịch dân sự và thương mại.
Điều này có nghĩa là, khi người nộp thuế đồng thời có nợ thuế và các khoản nợ khác thì sau khi đã thanh toán nợ cho người lao động (nếu có) và các khoản nợ phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản (trong trường hợp người nộp thuế bị đưa vào tình trạng phá sản), người nộp thuế phải trả nợ tiền thuế và các nghĩa vụ tài chính khác cho Nhà nước. Sau đó, nếu còn tiền mới trả các khoản nợ thông thường khác (bao gồm nợ không có bảo đảm hoặc nợ có bảo đảm nhưng chưa được thanh toán từ tiền bán tài sản bảo đảm) phát sinh trong các giao dịch dân sự và giao dịch thương mại của người nộp thuế [5, kh 1, Đ. Nói cách khác, nợ thuế được ưu tiên trả chỉ sau khoản nợ lương của người lao động, nhưng trước các khoản nợ thông thường khác của người nộp thuế đối với các chủ nợ của họ phát sinh trong giao dịch dân sự hoặc trong hoạt động thương mại. Khái niệm và đặc trưng của xử lý nợ thuế Trong quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế, có thể phát sinh tình trạng người nộp thuế không thực hiện hoặc chậm thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước.
Khi đó, vấn đề đề đặt ra là phải xử lý nợ thuế như thế nào để đảm bảo cho Nhà nước thu hồi đủ số tiền thuế hoặc tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại [30, tr.38] do người nộp thuế đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ tiền thuế. Trong khoa học pháp lý cũng như trong pháp luật thực định, chưa có định nghĩa chính thức nào về xử lý nợ thuế. Tuy nhiên, theo ý kiến của tác giả, có thể làm rõ khái niệm “xử lý nợ thuế” bằng cách tiếp cận từ các khái niệm tiền đề là “xử lý” và “nợ thuế”. Theo Từ điển Việt Nam của tác giả Thanh Nghị, “xử lý” được giải 9 nghĩa là “xử trí và chỉnh lý” [25, tr.
Tương tự, theo Từ điển Hán Việt của tác giả Đào Duy Anh, danh từ “xử lý” cũng được giải nghĩa là “xử trí và chỉnh lý” [19, tr. Từ các cách giải nghĩa này cho thấy, xử lý là hoạt động có ý thức theo đó một chủ thể có thẩm quyền áp dụng những biện pháp thích hợp mà pháp luật cho phép để giải quyết một hoặc một số tình huống xảy ra trong thực tế nhằm đạt được kết quả như mong muốn. Như vậy, từ việc giải nghĩa danh từ “xử lý” và danh từ “nợ thuế” như đã phân tích ở trên, có thể khái quát về thuật ngữ “xử lý nợ thuế” như sau: Xử lý nợ thuế là việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật nhằm giải quyết các nghĩa vụ tài sản liên quan đến nợ thuế của người nộp thuế. Xét về khía cạnh học thuật, xử lý nợ thuế có những đặc trưng cơ bản sau: Thứ nhất, về chủ thể xử lý nợ thuế.
Trên nguyên tắc, người có thẩm quyền xử lý nợ thuế là các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền như cơ quan thuế, hải quan, cơ quan tài chính, kho bạc Nhà nước… Các chủ thể này được pháp luật trao thẩm quyền áp dụng các biện pháp thích hợp nhằm giải quyết các nghĩa vụ thuế của người nộp thuế theo trình tự, thủ tục luật định. Ví dụ: gia hạn nộp thuế; xóa nợ tiền thuế, tiền phạt; cưỡng chế thi hành nghĩa vụ thuế… Thông thường, thẩm quyền này được ghi nhận trong các văn bản pháp luật về quản lý thuế ở mỗi quốc gia [4, Đ. Thứ hai, về đối tượng xử lý nợ thuế. Công tác xử lý nợ thuế nhằm vào đối tượng chủ yếu là nghĩa vụ thuế và nghĩa vụ nộp phạt của người nộp thuế do hành vi vi phạm pháp luật thuế.
Theo nghĩa rộng, nghĩa vụ thuế bao gồm số tiền thuế chính thức phải nộp theo 10 quy định của pháp luật; số tiền thuế bị truy thu và số tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại cho Nhà nước do người nộp thuế có hành vi vi phạm pháp luật thuế. Thứ ba, về nội dung xử lý nợ thuế. Nội dung xử lý nợ thuế được hiểu bao gồm việc cưỡng chế thi hành nghĩa vụ thuế hoặc chấm dứt, giảm trừ nghĩa vụ thuế của người nộp thuế trên cơ sở quy định của pháp luật [31, tr. Tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể và quan điểm của Nhà nước về chính sách thuế trong từng giai đoạn mà việc xử lý nợ thuế có thể được thực hiện theo hướng buộc người nộp thuế phải hoàn thành nghĩa vụ thuế với Nhà nước hoặc giảm trừ, chấm dứt nghĩa vụ thuế cho người nộp thuế bằng thủ tục xóa nợ tiền thuế, tiền phạt.
Thứ tư, về hậu quả của việc xử lý nợ thuế.