CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về thuế giá trị gia tăng 1. Khái niệm thuế giá trị gia tăng - Khái niệm thuế giá trị gia tăng (GTGT) Thuế GTGT là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng [15]. GTGT là phần giá trị mới được tạo ra trong sản xuất kinh doanh.
Nó được xác định bằng chênh lệch giữa tổng giá trị sản xuất ra với tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào tương ứng. Thuế GTGT phải nộp ở mỗi khâu được tính bằng cách lấy số thuế GTGT đầu ra trừ số thuế GTGT đầu vào tương ứng. Đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hóa được tiêu dùng, dịch vụ được sử dụng trên lãnh thổ Việt Nam mà cụ thể là phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ đó. Điều kiện để hàng hóa dịch vụ là đối tượng chịu thuế của thuế GTGT bao gồm: Thứ nhất, phải là hàng hóa, dịch vụ hợp pháp và được phép lưu thông trên thị trường Việt Nam.
Thứ hai, các khâu của quá trình lưu thông hàng hóa, dịch vụ từ sản xuất đến tiêu dùng phải là những giao dịch hợp pháp. Đặc điểm thuế giá trị gia tăng Căn cứ vào những tác động đến sản xuất kinh doanh, NNT và đối tượng chịu thuế, thuế GTGT có một số đặc điểm nổi bật sau: - Thuế GTGT là sắc thuế tiêu dùng nhiều giai đoạn không trùng lắp. Thuế GTGT đánh vào tất cả các giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh nhưng chỉ 6 tính trên phần giá trị tăng thêm của mỗi giai đoạn. Tổng số thuế của tất cả các giai đoạn đúng bằng số thuế tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng [14].
- Thuế GTGT có tính trung lập kinh tế cao. Thuế GTGT không phải là yếu tố chi phí mà đơn thuần là yếu tố cộng thêm vào ngoài giá bán của người cung cấp hàng hoá, dịch vụ. Thuế GTGT không bị ảnh hưởng trực tiếp bởi kết quả sản xuất kinh doanh của NNT. - Thuế GTGT là một sắc thuế thuộc loại thuế gián thu.
Người nộp thuế GTGT là người cung cấp hàng hoá, dịch vụ, người chịu thuế là người tiêu dùng cuối cùng. Thuế GTGT là một khoản tiền được cộng vào giá bán hàng hoá, dịch vụ mà người mua phải trả khi mua hàng. - Thuế GTGT có tính luỹ thoái so với thu nhập. Thuế GTGT đánh vào hàng hoá, dịch vụ, người tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ là người phải trả khoản thuế đó, không phân biệt thu nhập cao hay thấp đều phải trả số thuế như nhau, như vậy nếu so sánh giữa số thuế phải trả so với thu nhập thì người nào có thu nhập cao hơn thì tỷ lệ này thấp hơn và ngược lại.
- Thuế GTGT có tính lãnh thổ, đối tượng chịu thuế là hàng hoá, dịch vụ được tiêu dùng trong phạm vi lãnh thổ quốc gia. Vai trò của thuế giá trị gia tăng - Thuế GTGT thuộc loại thuế gián thu và được áp dụng rộng rãi đối với mọi tổ chức, cá nhân có tiêu dùng sản phẩm hàng hoá hoặc được cung ứng dịch vụ, nên tạo được nguồn thu chiếm tỷ trọng lớn và tương đối ổn định cho NSNN, thuế GTGT được thu tập trung ngay từ khâu đầu và thu thuế ở khâu sau còn kiểm tra được việc tính thuế, nộp thuế ở khâu trước nên hạn chế được việc thất thu thuế. Thuế tính trên giá bán hàng hoá hoặc giá dịch vụ nên không phải đi sâu xem xét, phân tích về tính hợp lý, hợp lệ cuả các khoản chi phí, làm cho việc tổ chức quản lý thu tương đối dễ dàng hơn các loại thuế trực thu. - Thuế GTGT khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, khuyến khích xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ, khắc phục được tình trạng thu thuế trùng lắp.
7 Khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh: Vì thuế GTGT là thuế chỉ đánh vào phần GTGT, không thu vào vốn đầu tư nên có tác dụng khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất, thay đổi dây chuyền công nghệ, ngoài ra các doanh nghiệp còn được khấu trừ hoặc hoàn thuế GTGT đầu vào khi đầu tư mua sắm nên thuế GTGT khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất. Ðối với hàng xuất khẩu không những không nộp thuế GTGT mà còn được khấu trừ hoặc được hoàn lại số thuế GTGT đầu vào nên có tác dụng giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, đẩy mạnh xuất khẩu, tạo điều kiện cho hàng xuất khẩu có thể cạnh tranh thuận lợi trên thị trường quốc tế. Thuế GTGT khắc phục được nhược điểm thu thuế trùng lắp, chồng chéo qua nhiều khâu của thuế Doanh thu trước đây - Thực hiện thuế GTGT có tác dụng tăng cường công tác hạch toán kế toán của DN vì việc tính thuế ở đầu ra, được khấu trừ số thuế đầu vào là biện pháp kinh tế góp phần thúc đẩy cả người mua hàng và người bán hàng cùng thực hiện tốt hơn chế độ hoá đơn, chứng từ. - Thực hiện thuế GTGT góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách thuế ở Việt Nam, phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, tạo điều kiện mở rộng hợp tác kinh tế với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Thuế GTGT được ban hành gắn liền với việc sửa đổi, bổ sung một số loại thuế khác như thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu.góp phần làm cho hệ thống chính sách thuế của Việt Nam ngày càng hoàn thiện, phù hợp với sự vận động và phát triển cuả nền kinh tế thị trường, tương đồng với hệ thống thuế trong khu vực và trên thế giới, góp phần đẩy mạnh việc mở rộng hợp tác kinh tế và thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Nhìn chung, trong các loại thuế gián thu, thuế GTGT được coi là phương pháp thu tiến bộ nhất hiện nay, được đánh giá cao do đạt được các mục tiêu lớn cuả chính sách thuế. Tuy nhiên, trong thời gian đầu áp dụng thuế GTGT đã phát sinh một số khó khăn, vướng mắc và Nhà nước đã từng bước tháo gỡ những khó khăn đó trong quá trình thực hiện Luật GTGT. Căn cứ tính thuế giá trị gia tăng và phương pháp tính thuế giá trị gia tăng 1.
Că n cứ tính thuế giá trị gia tă ng Căn cứ tính thuế GTGT là phần giá trị tăng thêm trong các khâu của quá trình lưu thông từ sản xuất đến tiêu dùng. Như vậy, khác với thuế doanh thu, đặc điểm của thuế GTGT chỉ đánh vào phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ trong quá trình lưu thông. Trường hợp không có GTGT thì sẽ không phải nộp thuế GTGT hoặc nếu có GTGT âm thì được hoàn thuế GTGT. Đây là điểm ưu việt vượt trội của thuế GTGT nhằm tạo ra tính công bằng, hợp lý cho đối tượng nộp thuế.
Đặc điểm này yêu cầu các chủ thể là đối tượng nộp thuế phải tự kiểm soát lẫn nhau về giá trị hàng hóa, dịch vụ nhằm bảo vệ lợi ích của mình. Giá tính thuế và thuế suất thuế GTGT [3]. Giá tính thuế: Nguyên tắc xác định là giá bán chưa có thuế GTGT được xác định trên hóa đơn bán hàng của người bán và chứng từ nhập khẩu của hàng hóa nhập khẩu bao gồm các khoản phụ thu, phí phụ thêm mà cơ sở SXKD được hưởng. Giá tính thuế được xác định bằng đồng Việt Nam.
Một số trường hợp cụ thể: - Đối với hàng hóa, dịch vụ do cơ sở SXKD bán ra Giá tính thuế = Thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có) + Giá bán chưa thuế - Đối với hàng hóa nhập khẩu Giá tính thuế = Thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có) + Giá bán nhập khẩu - Đối với hàng hóa dịch vụ mua ngoài dùng để trao đổi, biếu tặng, cho, trả thay lương, tiêu dùng nội bộ là giá tính thuế của hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ này. - Đối với hoạt động cho thuê tài sản là số tiền cho thuê chưa có thuế GTGT không phân biệt trả từng kỳ hay trả trước. Trường hợp thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải của nước ngoài loại trong nước chưa sản xuất được, giá tính thuế được trừ đi giá thuê phải trả cho nước ngoài. - Đối với hàng hóa bán theo phương thức trả góp, trả chậm thì giá tính thuế là giá bán trả một lần không kể khoản lãi trả chậm, trả góp.
9 - Đối với gia công hàng hóa là giá gia công chưa có thuế GTGT. - Đối với hoạt động xây dựng, lắp đặt là giá trị công trình, hạng mục công trình hay phần công việc bàn giao chưa có thuế GTGT. Trường hợp xây dựng, lắp đặt không bao thầu nguyên vật liệu, máy móc thiết bị thì giá tính thuế là giá trị xây dựng, lắp đặt không bao gồm giá trị nguyên vật liệu và máy móc thiết bị [3]. - Đối với hoạt động kinh doanh bất động sản là giá bán bất động sản chưa có thuế GTGT trừ giá chuyển quyền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất phải nộp NSNN.
- Đối với hoạt động đại lý, môi giới mua bán hàng hóa, dịch vụ hưởng hoa hồng là tiền hoa hồng thu được từ các hoạt động này chưa có thuế GTGT. - Đối với hàng hóa, dịch vụ sử dụng chứng từ thanh toán đã ghi giá thanh toán là giá có thuế GTGT thì giá tính thuế được xác định theo công thức: Giá chưa thuế Giá thanh toán (tiền bán vém, bán tem.) = GTGT 1 + Thuế suất của hàng hóa, dịch vụ (%) Thuế suất: Có 3 mức thuế suất được áp dụng cho từng nhóm mặt hàng khác nhau: 0%, 5% và 10%.