Chương 1: Cơ sở lý luận về dự án và quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình tại Ban Quản lý dự án. - Chương 2: Thực trạng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình tại Ban Quản lý Khu Công viên Lịch sử Văn hóa Dân tộc. - Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình tại Ban Quản lý Khu Công viên Lịch sử Văn hóa Dân tộc. 3 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỰ ÁN VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH TẠI BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN 1.
Khái ni m và ph n o i dự n đầu tƣ dựn 1. Kh i ni m dự n đầu tƣ dựn Đầu tƣ là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực về vật chất và trí tuệ để sản xuất và kinh doanh trong một thời gian tương đối dài nhằm thu về lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội. Dự n là một nhóm các công việc được thực hiện theo một quy trình nhất định để đạt được mục tiêu đề ra, có thời điểm bắt đầu và kết thúc được ấn định trước, và việc sử dụng tài nguyên có giới hạn. Dự n đầu tƣ dựn là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định.
Ph n o i dự n đầu tƣ xây dựn Dự án đầu tư xây dựng công trình được phân loại theo quy mô, tính chất và nguồn vốn đầu tư. Nội dung dự án đầu tư được lập phù hợp với yêu cầu của từng loại dự án. - Theo qu m và tính chất Dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội xem xét, quyết định về chủ trương đầu tư, các dự án còn lại được phân thành ba nhóm A, B, C tùy theo loại công trình và tổng mức đầu tư. - Theo n uồn vốn đầu tƣ + Dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước.
+ Dự án sử dụng vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước. + Dự án sử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước. 4 + Dự án sử dụng vốn khác bao gồm cả vốn tư nhân hoặc sử dụng hỗn hợp nhiều nguồn vốn. Đặc trƣn của dự n đầu tƣ dựn Cũng giống như các dự án đầu tư khác, dự án đầu tư xây dựng có những đặc trưng cơ bản sau: - Dự án có mục đích, mục tiêu rõ ràng.
Mỗi dự án thể hiện một hoặc một nhóm nhiệm vụ cần được thực hiện với một bộ kết quả xác định nhằm thỏa mãn một nhu cầu nào đó. Dự án cũng là một hệ thống phức tạp nên cần được chia thành nhiều bộ phận khác nhau để thực hiện và quản lý nhưng phải đảm bảo các mục tiêu cơ bản về thời gian, chi phí và việc hoàn thành với chất lượng cao. - Dự án có chu kỳ phát triển riêng và thời gian tồn tại hữu hạn Chu kỳ của một dự án đầu tư là các bước hoặc các giai đoạn mà một dự án phải trải qua, bắt đầu từ khi dự án mới chỉ là ý đồ cho đến khi dự án được hoàn thành chấm dứt hoạt động. Bên cạnh đó, dự án cũng bị chi phối về mặt thời gian và quy mô.
Mỗi dự án đều phải có điểm khởi đầu và điểm kết thúc xác định. - Dự án liên quan đến nhiều bên, nhiều loại nguồn lực và có sự tương tác phức tạp giữa các bộ phận quản lý chức năng với quản lý dự án. Dự án nào cũng có sự tham gia của nhiều bên hữu quan như chủ đầu tư, người hưởng thụ dự án, các nhà tư vấn, nhà thầu, các cơ quan quản lý nhà nước. Tùy theo tính chất và yêu cầu của chủ đầu tư mà sự tham gia của các thành phần trên là khác nhau.
Giữa các bộ phận quản lý chức năng và nhóm quản lý dự án thường xuyên, có quan hệ lẫn nhau và cùng phối hợp thực hiện nhiệm vụ, nhưng mức độ tham gia của các bộ phận không giống nhau. Vì mục tiêu của dự án, các nhà quản lý dự án cần duy trì thường xuyên mối quan hệ với các bộ phận quản lý khác. - Môi trường hoạt động của dự án là “va chạm”, có sự tương tác phức tạp giữa dự án này với dự án khác, giữa bộ phận quản lý này với bộ phận quản lý khác. Quan hệ giữa các dự án là quan hệ chia nhau, cùng một nguồn lực khan hiếm của một tổ chức.
Dự án “cạnh tranh” lẫn nhau và với các bộ phận chức năng khác về tiền vốn, nhân lực, thiết bị. Một số trường hợp, các thành viên quản lý dự án thường có hai 5 thủ trưởng trong cùng một thời gian nên sẽ gặp khó khăn không biết thực hiện quyết định nào cảu cấp trên, khi hai mệnh lệnh mâu thuẫn nhau. - Tính rủi ro cao: Các dự án đầu tư xây dựng đòi hỏi quy mô tiền vốn, vật tư và lao động rất lớn để thực hiện. Mặt khác, do thời gian đầu tư và vận hành kéo dài nên các dự án đầu tư xây dựng thường có độ rủi ro cao.
- Dự án có tính duy nhất: Mỗi dự án đều có đặc trưng riêng biệt, lại được thực hiện trong những điều kiện khác biệt nhau cả về địa điểm, không gian, thời gian và môi trường luôn thay đổi đã tạo nên tính duy nhất của mỗi dự án. Sản phẩm của dự án mang tính chất đơn chiếc, độc đáo (mới lạ) vì phụ thuộc vào đơn hàng của chủ đầu tư, điều kiện địa lý, địa chất công trình nơi xây dựng. - Sản phẩm là những công trình được xây dựng và sử dụng tại chỗ (không di chuyển được), vốn đầu tư xây dựng lớn, thời gian kiến tạo và thời gian sử dụng lâu dài. Do đó, khi tiến hành xây dựng phải chú ý ngay từ khi lập dự án để chọn địa điểm xây dựng, khảo sát thiết kế và tổ chức thi công xây lắp công trình sao cho hợp lý, tránh phá đi làm lại, hoặc sửa chữa gây thiệt hại vốn đầu tư và giảm tuổi thọ công trình.
Hoạt động đầu tư xây dựng cũng gắn liền với hoạt động sử dụng đất. - Chịu tác động lớn của các yếu tố mang tính địa phương. Do địa điểm tiến hành đầu tư xây dựng là cố định, vì vậy các dự án này chịu ảnh hưởng rất lớn từ các yếu tố như môi trường pháp lý, nguồn nhân lực, nguồn cung cấp nguyên vật liệu xây dựng. của địa phương nơi đặt dự án.
- Sản phẩm thường có kích thước lớn, trọng lượng lớn. Số lượng, chủng loại vật tư, thiết bị xe máy thi công và lao động phục vụ cho mỗi công trình cũng rất khác nhau, lại luôn thay đổi theo tiến độ thi công. Bởi vậy giá thành sản phẩm rất phức tạp thường xuyên thay đổi theo từng khu vực, từng thời kỳ. - Sản phẩm xây dựng liên quan đến nhiều cảnh quan và môi trường tự nhiên, do đó liên quan đến lợi ích của cộng đồng, nhất là đến dân cư của địa phương nơi đặt công trình.
Sản phẩm mang tính tổng hợp về kỹ thuật, kinh tế, xã hội, văn hóa – nghệ thuật và quốc phòng. Sản phẩm chịu nhiều ảnh hưởng của nhân tố thượng tầng kiến trúc, 6 mang bản sắc truyền thống dân tộc, thói quen tập quán sinh hoạt. Có thể nói sản phẩm xây dựng phản ánh trình độ kinh tế khoa học – kỹ thuật và văn hóa trong từng giai đoạn phát triển của một đất nước. Những đặc điểm trên chi phối trực tiếp đến công tác lập, quản lý quá trình thực hiện đầu tư và vận hành khai thác của dự án đầu tư xây dựng.
Nội dun của dự n đầu tƣ dựn Dự án đầu tư xây dựng công trình bao gồm các nội dung chính sau đây: - Sự cần thiết và mục tiêu đầu tư; đánh giá nhu cầu thị trường, tiêu thụ sản phẩm đối với dự án sản xuất, kinh doanh; tính cạnh tranh của sản phẩm; tác động xã hội đối với địa phương, khu vực (nếu có); hình thức đầu tư xây dựng công trình; địa điểm xây dựng, nhu cầu sử dụng đất; điều kiện cung cấp nguyên liệu, nhiên liệu và các yếu tố đầu vào khác. - Mô tả về quy mô và diện tích xây dựng công trình, các hạng mục công trình thuộc dự án; phân tích lựa chọn phương án kỹ thuật, công nghệ và công suất. - Các giải pháp thực hiện bao gồm: + Phương án chung về giải phóng mặt bằng, tái định cư và phương án hỗ trợ xây dựng hạ tầng kỹ thuật nếu có; + Các phương án thiết kế kiến trúc đối với công trình trong đô thị và công trình có yêu cầu kiến trúc; + Phương án khai thác dự án và sử dụng lao động; + Phân đoạn thực hiện, tiến độ thực hiện và hình thức quản lý dự án. - Đánh giá tác động môi trường, các giải pháp phòng cháy, chữa cháy và các yêu cầu về an ninh, quốc phòng.
- Tổng mức đầu tư của dự án; khả năng thu xếp vốn, nguồn vốn và khả năng cấp vốn theo tiến độ; phương án hoàn trả vốn đối với dự án có yêu cầu thu hồi vốn và phân tích đánh giá hiệu quả kinh tế - tài chính, hiệu quả xã hội của dự án. Kiểm so t dự n 7 Kiểm soát dự án xây dựng là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án bằng cách theo dõi, tập hợp và báo cáo số liệu về chi phí, thời gian, những thay đổi về yêu cầu kỹ thuật.Để so sánh giữa công việc kế hoạch và công việc đã làm, nhờ đó có thể đo lường, đánh giá, đưa ra những phương hướng hành động và cách giải quyết để kiểm soát được tiến trình dự án. Chu tr nh dự n đầu tƣ dựn 1. Tr nh tự đầu tƣ dựn Trình tự đầu tư xây dựng được hiểu như là một cơ chế để tiến hành các hoạt động đầu tư xây dựng trong đó định rõ thứ tự, nội dung các công việc cùng trách nhiệm và mối quan hệ giữa các bên hữu quan trong việc thực hiện các công việc đó.
Trình tự đầu tư xây dựng có 03 giai đoạn gồm chuẩn bị dự án, thực hiện dự án và kết thúc xây dựng đưa công trình của dự án vào khai thác sử dụng, trừ trường hợp xây dựng nhà ở riêng lẻ.