CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN LÝ ĐIỆN 1. Tổng quan về quản lý điện 1. Định nghĩa hoạt động điện lực Theo từ điển Oxford thì hoạt động điện lực được định nghĩa là một chuỗi các hoạt động của các cá nhân và tổ chức trong các lĩnh vực đầu tư, phát triển năng lượng từ các hạt cơ bản mang điện, thường được cung cấp dưới dạng dòng điện qua cáp, dây dẫn, v.
để thắp sáng, sưởi ấm, máy lái, …”. Tại Khoản 1 Điều 3 Luật Điện lực 2004, hoạt động điện lực được định nghĩa là hoạt động của các cá nhân và tổ chức trong các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến các vấn đề quy hoạch, đầu tư phát triển điện lực, phát điện, truyền tải điện, điều độ hệ thống điện, phân phối điện, điều hành các giao dịch trên thị trường điện, bán buôn, bán lẻ điện, tư vấn chuyên ngành điện lực và những hoạt động khác có liên quan. Như vậy, từ các định nghĩa trên, hoạt động điện lực hiểu một cách khái quát là hoạt động của các cá nhân, tổ chức làm việc trong các lĩnh vực đầu tư phát triển điện năng như phát điện, quản lý và điều độ hệ thống điện, truyền tải điện, phân phối điện, điều tiết thị trường điện lực, … 1. Đặc điểm ngành điện Theo Nguyễn Thị Kiều (2020), ngành điện có các đặc điểm như sau: - Quy mô và cơ cấu đầu tư vào tài sản dài hạn chiếm tỷ trọng cao: Do tính chất hoạt động của các DN sản xuất điện năng là cần phải đầu tư một lượng vốn cho những tài sản quy mô lớn là những tài sản cố định bao gồm các công trình, nhà máy sản xuất điện năng, hệ thống vận hành truyền tải điện năng… Đặc điểm này quyết định nguồn vốn huy động của các DN chủ yếu là nguồn vốn dài hạn bao gồm nợ vay dài hạn và vốn chủ sở hữu.
- Nguồn nhiên liệu sản xuất điện năng đang có xu hướng cạn kiệt: Nguồn nhiên liệu sản xuất điện năng từ than đá, khí đốt, dầu mỏ đối với DN Nhiệt điện đang cạn kiệt do quá trình khai thác thiếu kiểm soát. Hiện nay, Việt Nam đang phải nhập khẩu than đá, khí đốt và dầu mỏ từ nước ngoài. Điều này làm gia tăng chi phí đối với việc 8 sản xuất điện năng làm cho lợi nhuận kinh doanh bị giảm xuống. Nguồn nhiên liệu từ sức nước đối với các nhà máy thuỷ điện cũng đang biến động bất thường do biến động của điều kiện khí hậu.
Sản lượng điện sản xuất của các DN Thuỷ điện chịu ảnh hưởng lớn từ lưu lượng nước đổ vào các sông thuỷ điện. - Ngành điện là một ngành có tính ổn định cao so với chu kỳ kinh tế: Điện mang đặc điểm của một loại hàng hoá đặc biệt mà sự thiếu hụt hàng hoá này sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế. Việc thiếu điện sẽ làm cho hoạt động kinh doanh bị đình trệ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản lượng sản xuất và DN của các ngành nghề, lĩnh vực. Bởi vậy, ngành điện ít chịu tác động từ các cú sốc kinh tế.
Doanh số bán điện của các DN ít chịu tác động của sự tăng trưởng và suy thoái kinh tế. Hoạt động sản xuất mang tính ổn định là một lợi thế rất lớn trong việc thu hút nguồn vốn đầu tư dài hạn từ các nhà đầu tư đối với các DN trên thị trường tài chính. - Ngành điện được hỗ trợ bởi Nhà nước: Do tính chất vai trò chiến lược của ngành điện đối với tiến trình phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia nên ngành điện luôn được quan tâm, ưu đãi đặc biệt từ phía chủ thể Nhà nước trong quá trình phát triển. Đặc biệt, Nhà nước đang chủ trương cao trong việc thực hiện xây dựng thị trường buôn bán điện cạnh tranh nên để đạt được mục tiêu này, nhiều chính sách ưu đãi hỗ trợ từ phía Nhà nước đã được triển khi manh đến các DN bao gồm: hỗ trợ các DN trong việc vay vốn từ các tổ chức tín dụng trong nước với chi phí thấp; tạo điều kiện cho các DN thuê đất với giá rẻ trong thời gian dài; giảm thuế thu nhập DN đối với các DN quy mô trung bình và quy mô nhỏ… Chi phí sử dụng vốn của các DN ngành điện được giảm thiểu do các DN phần lớn được sử dụng các khoản nợ vay với chi phí thấp.
Khái niệm quản lý điện Trương Thị Thanh Nhàn (2010) cho rằng quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý một cách có chủ đích, được diễn ra liên tục và có tổ chức, nhằm mục đích phối hợp các nguồn lực trong tổ chức cùng hành động để hướng tới một mục tiêu chung với mức độ hoàn thành tốt nhất. Sự ra đời và phát triển của quản lý gắn liền với sự phân chia công việc ở mọi chế độ xã hội. Quản lý có thể xuất hiện ở bất kỳ đâu, bất kỳ thời điểm nào, khi con 9 người cần có sự phối hợp để cùng đạt được một mục đích, nhiệm vụ chung. Tựu chung lại, quản lý bao hàm ý nghĩa đó là quá trình tổ chức, phân bổ, phối hợp các hoạt động dựa trên những quy luật khách quan một cách có chủ đích nhằm đạt được những mục tiêu và yêu cầu nhất định.
Vai trò của quản lý ngày càng cao khi xã hội càng phát triển. Từ đó, có thể đưa ra khái niệm về quản lý đó là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý một cách có chủ đích, được diễn ra liên tục và có tổ chức, nhằm phát huy năng lực của các nguồn lực, nắm bắt những thời cơ dựa trên những quy luật khách quan nhằm đạt được những mục tiêu đã đề ra. Từ định nghĩa quản lý có thể hiểu quản lý điện là sự tác động của chủ thể quản lý (các công ty điện lực) lên đối tượng quản lý (điện) nhằm đạt được mục tiêu quản lý như quy hoạch phát triển điện, lưới điện; truyền tải điện phục vụ hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, thương mại dịch vụ, dân sinh; vận hành lưới điện; kiểm soát, tối ưu nguồn điện, xác định nguyên nhân nào gây hao tổn, lãng phí nguồn điện, … 1. Đặc điểm của quản lý điện Theo Luật Điện lực (2004) và Luật số: 24/2012/QH13 quản lý điện có đặc điểm: - Quản lý hoạt động các hệ thống phát, truyền tải, đặc biệt là phân phối và tiêu thụ điện; hệ thống chiếu sáng; hệ thống chống sét; hệ thống an ninh, an toàn điện.
- Thiết kế, triển khai, xây dựng, vận hành và bảo trì hệ thống phân phối điện năng khu công nghiệp, khu dân cư; mạng động lực phân xưởng, xí nghiệp; hệ thống chiếu sáng dân dụng và công nghiệp; hệ thống chống sét và nối đất; hệ thống bảo vệ - an ninh, an toàn điện; - Tính toán, thiết kế, sửa chữa, phát huy hết năng suất và đảm bảo tính năng tối ưu của thiết bị trong hệ thống và tiết kiệm năng lượng; - Sửa chữa, vận hành và kiểm tra các loại thiết bị điện, máy điện ba pha, máy điện một pha, … 1. Vai trò và ý nghĩa quản lý điện Theo Luật Điện lực (2004) và Luật số: 24/2012/QH13 quản lý điện có vai trò và ý nghĩa: 10 - Nâng cao độ tin cậy trong việc cung cấp điện, đáp ứng được nhu cầu của khách hàng sử dụng điện và là yếu tố sống còn của doanh nghiệp trong giai đoạn thực hiện thị trường điện cạnh tranh. - Xác định được khuynh hướng tiêu thụ năng lượng và tiềm năng tiết kiệm năng lượng của các loại thiết bị khác nhau như: Động cơ, máy bơm, … - Từ các thông tin về chế độ vận hành có thể phát hiện nguy cơ tiềm ẩn. Nhằm khắc phục trước khi có thể dẫn đến sự cố.
- Khả năng ghi nhận các thông số cho phép phân tích nguyên nhân gây ra sự cố có tính chính xác và nhanh chóng. Qua đó hỗ trợ các công ty điện lực có sự chuẩn bị thích hợp để giải trừ nhanh sự cố. - Giảm thiểu chi phí: với thông tin phụ tải từ hệ thống giám sát. Có thể triển khai phương thức loại bỏ phụ tải tối ưu cho hệ thống trung tâm nhằm tối giản số tiền điện phải trả cho điện lực.
- Nhằm thỏa mãn ngày càng cao nhu cầu của khách hàng sử dụng điện, phát huy tối đa năng lực, công suất và hiệu quả các thiết bị sử dụng điện; Phù hợp với đòi hỏi và yêu cầu của người tiêu dùng thể hiện trên 3 phương diện: Hiệu năng sử dụng, khả năng hoàn thiện về mặt giá trị sử dụng; Thỏa mãn nhu cầu người tiêu dùng; Cung cấp đầy đủ, kịp thời và an toàn cho khách hàng sử dụng. - Nhân tố quan trọng hàng đầu đó là chất lượng công tác quản lý điện, cho thấy khả năng đáp ứng được nguồn điện chất lượng, đóng góp vào sự phát triển của kinh tế, xã hội. - Nâng cao uy tín, thương hiệu và là cơ sở cho các doanh nghiệp có thể tiếp tục tồn tại và phát triển bền vững, dài lâu. - Tăng năng suất lao động xã hội.
- Góp phần tiết kiệm chi phí quản lý vận hành, chi phí sửa chữa thường xuyên. - Nâng cao trình độ quản lý, năng suất lao động, việc áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ, công nghệ tin học vào quản lý điện giúp xây dựng tác phong làm việc khoa học có tính hệ thống. - Tăng hiệu quả kinh doanh, cải thiện, phát triển, nâng cao năng lực để phát triển, sẵn cho việc tham gia vào thị trường cạnh tranh. 11 - Nâng cao thu nhập cho người lao động và hiệu quả hoạt động kinh doanh của đơn vị.
- Các nhà đầu tư, doanh nghiệp và khách hàng sử dụng điện có độ tin tưởng và tin cậy cao hơn về chất lượng nguồn điện cũng như đơn vị cung cấp điện. Tạo ra mối quan hệ giữa Công ty với khách hàng sử dụng điện với Công ty dựa trên sự đồng thuận, gắn kết và thấu hiểu. - Tối ưu mọi nguồn lực, đáp ứng nhu cầu điện năng phục vụ đời sống nhân dân và phát triển kinh tế - xã hội với chất lượng ổn định, an toàn và kinh tế, dịch vụ văn minh, góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh và an ninh năng lượng quốc gia. - Xây dựng và phát triển thị trường điện lực dựa trên các nguyên tắc cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng, công khai.