Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng và quản lý chất lượng công trình xây dựng. 3 Chương 2: Thực trạng công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng tại Ban quản lý dự án Thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương. Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng tại Ban quản lý dự án thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương. 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG VÀ QUẢN LÝ CHẤT LƢỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG 1.1 Lý luận chung về chất lƣợng công trình xây dựng 1.1 Khái niệm chất lượng và vai trò của chất lượng 1.
Khái niệm về chất lượng Chất lượng là một khái niệm quá quen thuộc với loài người ngay từ những thời cổ đại, tuy nhiên chất lượng cũng là một khái niệm gây nhiều tranh cãi. Tùy theo đối tượng sử dụng, từ "chất lượng" có ý nghĩa khác nhau. Người sản xuất coi chất lượng là điều họ phải làm để đáp ứng các qui định và yêu cầu do khách hàng đặt ra, để được khách hàng chấp nhận. Chất lượng được so sánh với chất lượng của đối thủ cạnh tranh và đi kèm theo các chi phí, giá cả.
Do con người và nền văn hóa trên thế giới khác nhau, nên cách hiểu của họ về chất lượng và đảm bảo chất lượng cũng khác nhau. Nói như vậy không phải chất lượng là một khái niệm quá trừu tượng đến mức người ta không thể đi đến một cách diễn giải tương đối thống nhất, mặc dù sẽ còn luôn luôn thay đổi. Tổ chức Quốc tế về tiêu chuẩn hóa ISO, trong dự thảo DIS 9000:2000, đã đưa ra định nghĩa sau: Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan. Vai trò của chất lượng V i trò củ chất lƣợng trong c nh tr nh Cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường và một cơ chế thị trường mang tính chất quốc tế cao, luôn mở ra các cơ hội và đồng thời cũng đặt ra không ít những thách thức lớn lao cho các doanh nghiệp.
Để chiến thắng trong cạnh tranh, để tồn tại và phát triển các doanh nghiệp phải luôn tạo ra cho mình một khả năng cạnh tranh đối với mỗi sản phẩm hàng hoá. khả năng cạnh tranh hay sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá và dịch vụ bao gồm các yếu tố: Mức chất lượng, giá cả, điều kiện cung cấp, hình thức thanh toán, phương thức vận chuyển và giao nhận môi trường cạnh tranh, vị thế so sánh vv. Trong đó hai yếu tố chất lượng và giá cả là những yếu tố quan trọng hàng đầu. Hai yếu tố này luôn gắn liền với các thuộc tính vốn có của bản thân mỗi sản phẩm hàng hoá, dịch vụ.
Để nâng cao khả năng cạnh tranh đối với mỗi loại sản phẩm của mình. Doanh nghiệp có thể sử dụng một loạt các biện pháp tác động đồng thời vào các 5 yếu tố trên. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, hai yếu tố mức chất lượng và giá cả vẫn được ưu tiên hàng đầu và coi như là một nền tảng quyết định tới toàn bộ quá trình. Ngày nay, trước tác động của sự phát triển về khoa học kỹ thuật sự thay đổi nhanh trong nhu cầu và thị hiếu người tiêu dùng.
Cạnh tranh về giá trên thị trường đang có xu hướng chuyển dần sang cạnh tranh phi giá, đặc biệt là cạnh tranh về chất lượng. Vai trò quyết định của chất lượng còn được thể hiện ở tác động to lớn của nó tới khả năng sinh lời và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Những số liệu thống kê cho thấy rằng những doanh nghiệp có vị thế cao hơn về chất lượng có thể thiết lập một mức giá bán cao hơn so với các sản phẩm cùng loại của các doanh nghiệp khác mà họ vẫn bán chạy hàng hơn. Ngoài ra, mức thu hồi vốn đầu tư giữa hai loại doanh nghiệp này cùng có một mức chênh lệch khá lớn.
Như vậy, vấn đề chất lượng ngày nay không chỉ còn là một vấn đề kỹ thuật thuần tuý nữa mà đã trở thành một vấn đề mang tính chiến lược hàng đầu trong sản xuất – kinh doanh của các doanh nghiệp, tổ chức. Nó là yếu tố quyết định và cơ bản làm nên sức cạnh tranh của các loại sản phẩm hàng hoá dịch vụ mà doanh nghiệp hay tổ chức đang tham gia cung ứng trên thị trường. V i trò củ chất lƣợng trong quá trình hội nhập Khi nền kinh tế nước ta thực sự tham gia vào các sân chơi lớn cùng với các nước trong khu vực. Các doanh nghiệp Việt Nam và cả nền kinh tế Việt Nam sẽ đứng trước một thách thức lớn lao đó chính là vấn đề chất lượng sản phẩm và vấn đề cạnh tranh, sức cạnh tranh của các loại sản phẩm hàng hoá dịch vụ do ta sản xuất và cung cấp.
So với các đối thủ cạnh tranh, các doanh nghiệp Việt Nam cũng như cả nền kinh tế nước ta còn bị hạn chế bởi trình độ phát triển, trình độ công nghệ, khoa học kỹ thuật và khả năng về vốn cũng như trình độ quản lý vv…Và do vậy chất lượng sản phẩm của các doanh nghiệp nước ta cũng như khả năng cạnh tranh còn yếu so với các đối thủ trong khu vực. Trong một thị trường chung rộng lớn được quốc tế hoá cao. Vấn đề chất lượng sản phẩm ngày càng trở nên vô cùng quan trọng bởi tính chất cạnh tranh đặc biệt là cạnh tranh quốc tế đang có nhiều thay đổi và các thay đổi này lại đang hướng theo chiều hướng cạnh tranh bằng chất lượng. Theo hướng ấy, để có thể tồn tại và phát triển không những trên thị trường trong nước mà cả thị trường quốc tế.
Các doanh nghiệp Việt Nam cần phải hướng các nỗ lực của mình vào các vấn đề cải tiến và 6 nâng cao chất lượng, đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu và thị hiếu của khách hàng, không chỉ khách hàng trong nước mà còn có cả khách hàng trong khu vực và quốc tế 1. Công trình xây dựng và chất lượng công trình xây dựng 1. Khái niệm Theo Luật xây dựng số 50/2014/QH13 thì công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế. Công trình xây dựng bao gồm công trình dân dụng, công trình công nghiệp, giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật và công trình khác.
Đặc điểm công trình xây dựng a. M ng tính chất riêng lẻ Công trình xây dựng do được đặt ở các vị trí khác nhau trên mặt đất cho nên các điều kiện về địa chất, địa lý cũng khác nhau. Điều đó cho thấy mỗi công trình sẽ có yêu cầu về thiết kế mỹ thuật, kết cấu, hình thức, thời gian xây dựng khác nhau. Chính vì vậy, công trình xây dựng cũng cần phải có yêu cầu về tổ chức quản lý, tổ chức thi công và biện pháp thi công phù hợp với đặc diểm của từng công trình cụ thể.
Do đó công trình xây dựng có tính chất đơn chiếc, được sản xuất theo đơn đặt hàng nên chi phí cho mỗi công trình cũng khác nhau giữa các công trình, ngay cả khi công trình thi công theo các thiết kế mẫu nhưng đựơc xây dựng ở những địa điểm khác nhau với các điều kiện thi công khác nhau thì chi phí sản xuất cũng khác nhau. Vì lý do đó, hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật, các quy trình quy phạm, công nghệ thi công được áp dụng vào công trình cụ thể cũng có những điều chỉnh cho phù hợp với các yêu cầu của chủ đầu tư. Công trình xây dựng có kích thƣớc, trọng lƣợng v chi phí thực hiện lớn, thời gi n thi công d i Công trình xây dựng thường có khối lượng lớn nên thời gian thi công dài, có công trình phải xây dựng nhiều năm mới xong. Trong thời gian sản xuất thi công xây dựng chưa tạo ra sản phẩm cho xã hội nhưng lại sử dụng nhiều vật tư, nhân lực của xã hội.
Do đó, khi lập kế hoạch xây dựng cần cân nhắc, thận trọng nêu rõ các yêu cầu về vật tư, tiền 7 vốn, nhân công. Việc quản lý theo dõi quá trình sản xuất thi công phải chặt chẽ, nhằm bảo đảm hiệu quả và chất lượng công trình. Công trình xây dựng thƣờng đƣợc đặt cố định Do khối lượng lớn nên công trình xây dựng thường được chế tạo tại chỗ, do vậy khi chọn địa điểm xây dựng phải điều tra nghiên cứu khảo sát thật kỹ về điều kiện kinh tế, địa chất, thuỷ văn, kết hợp các yêu cầu về phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội trước mắt cũng như lâu dài để đặt địa điểm xây dựng công trình mới có thể mang lại hiệu quả như yêu cầu mục tiêu của dự án đã đặt ra. Chịu ảnh hƣởng nhiều với điều kiện khí hậu – thời tiết Do sản phẩm lớn, thời gian chế tạo dài, quá trình chế tạo thường diễn ra ngoài trời nên quá trình hình thành sản phẩm xây dựng cần nhiều yếu tố thời gian và có những lúc thời tiết, nhiệt độ không thể chế tạo được do các yêu cầu về chất lượng do đó việc thi công xây lắp phụ thuộc nhiều bởi các điều kiện về khí hậu và thời tiết.
Chất lượng công trình xây dựng Chất lượng công trình xây dựng không những có liên quan trực tiếp đến an toàn sinh mạng, an toàn cộng đồng, hiệu quả của dự án đầu tư xây dựng công trình mà còn là yếu tố quan trọng đảm bảo sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Do có vai trò quan trọng như vậy nên luật pháp về xây dựng của các nước trên thế giới đều coi đó là mục đích hướng tới. Ở Việt Nam, Luật Xây dựng 2014 được ban hành hay thế cho Luật xây dựng 2003, trong đó chất lượng công trình xây dựng cũng là nội dung trọng tâm, xuyên suốt. Luật Xây dựng và các văn bản hướng dẫn Luật về quản lý chất lượng công trình xây dựng đã được hoàn thiện theo hướng hội nhập quốc tế; những mô hình quản lý chất lượng công trình tiên tiến cùng hệ thống tiêu chí kỹ thuật cũng được áp dụng một cách hiệu quả.