Chương 1: Cơ sở lý luận chung về công tác quản lý bảo trì công trình đường bộ. Chương 2: Thực trạng công tác bảo trì công trình đường bộ tại Cục Quản lý Đường bộ IV – Tổng cục Đường bộ Việt Nam. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý bảo trì công trình đường bộ tại Cục Quản lý Đường bộ IV – Tổng cục Đường bộ Việt Nam. 3 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ BẢO TRÌ CÔNG TRÌNH ĐƢỜNG BỘ 1.
Tổng quan về hệ thống giao thông đƣờng bộ Mạng lưới giao thông đường bộ nước ta được phân bố tương đối hợp lý khắp cả nước (cụ thể tại hình 1.1) và cải thiện rõ rệt trong những năm qua, nhiều tuyến đường, cầu lớn đã và đang được nâng cấp xây dựng để phục vụ cho sự phát triển KT-XH đất nước, góp phần bảo đảm quốc phòng an ninh. Tính đến tháng 05/2017 có khoảng 300.000 Km đường các loại, chia thành đường quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện, đường xã và đường chuyên dùng [10], [11], [12]. Theo dữ liệu thống kê từ Tổng cục ĐBVN, mạng lưới đường bộ bao gồm hệ thống quốc lộ với 21.100km, chiếm tỉ lệ 4%; đường đô thị có 26.950km, chiếm 5%; đường tỉnh 28.910km, chiếm 5,1%; đường huyện 58.430km, chiếm 10%; đường liên xã 144.670km, chiếm 25%; đường thôn xóm, đường trục nội đồng 289.790km, chiếm 51% và 741km đường cao tốc. Đường có tiêu chuẩn kỹ thuật cao và trung bình (cấp I, II, III) chiếm 47%, còn lại 53% là đường cấp thấp (cấp IV chiếm 32%, cấp V chiếm 21%).
Tỷ lệ đường có chiều rộng nền, mặt đường theo đúng cấp kỹ thuật còn thấp, chủ yếu có yếu tố hình học về bán kính cong, chiều rộng châm chước; chiều rộng mặt đường ≥7m có khoảng 46%, mặt đường 5~6,9m khoảng 33%, khoảng 21% còn lại là mặt đường có bề rộng dưới 5m. Tuy vậy, kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ vẫn còn yếu kém, lạc hậu và cũng chỉ mới tập trung cho những công trình quan trọng, cấp bách, tỷ trọng đường cao tốc, đường có tiêu chuẩn kỹ thuật cao còn khá thấp so với khu vực và quốc tế; hệ thống đường địa phương, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo còn xấu; - Đường trục quốc gia mang tính chiến lược và các hành lang kinh tế trọng điểm quy mô còn nhỏ bé; năng lực phục vụ chưa đáp ứng nhu cầu phát triển; - Sự kết nối của giao thông vận tải đường bộ với các hệ thống giao thông khác (đường sắt, đường thủy nội địa, đường ra cảng biển,.) còn rất yếu kém, thiếu đồng bộ, xuất hiện nhiều nút thắt cổ chai, nhất là trên hành lang vận tải Bắc Nam, tại các vùng kinh tế trọng điểm, khu vực đô thị; 4 - Tình trạng kỹ thuật đường bộ còn thấp kém; sụt trượt còn xảy ra thường xuyên gây ách tắc giao thông; số lượng cầu yếu, tải trọng thấp, chưa đồng bộ với cấp đường còn nhiều. Nhiều tuyến đường giao thông địa phương miền núi chưa đi lại được quanh năm.1: Mạng lưới tuyến điểm của đường bộ Việt Nam 5 1. Bảo trì công trình đƣờng bộ 1.
Khái niệm bảo trì đường bộ Bảo trì công trình xây dựng nói chung và bảo trì đường bộ nói riêng là tập hợp các công việc nhằm bảo đảm và duy trì sự làm việc bình thường, an toàn của công trình theo quy định của thiết kế trong quá trình khai thác sử dụng [13] [14]. Bảo trì đường bộ: là tập hợp các hoạt động nhằm duy trì hoạt động bình thường của công trình đường bộ và đảm bảo an toàn cho các đối tượng sử dụng đường bộ. Công tác bảo trì đường bộ bao gồm công tác bảo dưỡng thường xuyên; sửa chữa định kỳ và sửa chữa đột xuất. Công tác bảo trì đường bộ Bảo dưỡng Sửa chữa định Sửa chữa đột thường xuyên kỳ xuất Hình 1.2: Công tác bảo trì đường bộ - Bảo dưỡng thường xuyên: là các thao tác kỹ thuật được tiến hành thường xuyên nhằm phòng ngừa và khắc phục kịp thời những hư hỏng nhỏ của các bộ phận công trình và thiết bị.
Bảo dưỡng thường xuyên để hạn chế tối đa sự phát triển từ hư hỏng nhỏ trở thành hư hỏng lớn. Các công việc này được thực hiện thường xuyên liên tục hàng ngày, trong suốt cả năm trên toàn bộ tuyến đường, để đảm bảo giao thông vận tải đường bộ được an toàn, thông suốt và êm thuận. - Sửa chữa định kỳ: là công tác sửa chữa hư hỏng đường bộ theo thời hạn quy định, kết hợp khắc phục một số khuyết tật của đường bộ xuất hiện trong quá trình khai thác, nhằm khôi phục tình trạng kỹ thuật ban đầu và cải thiện điều kiện khai thác của đường bộ (nếu cần thiết). Công tác sửa chữa định kỳ bao gồm sửa chữa vừa và sửa chữa lớn ; giữa hai kỳ sửa chữa lớn có ít nhất một lần sửa chữa vừa.
+ Sửa chữa vừa: là sửa chữa những hư hỏng, khắc phục những biểu hiện xuống cấp của bộ phận, kết cấu công trình có thể ảnh hưởng đến chất lượng khai 6 thác đường bộ và gây mất an toàn khai thác. + Sửa chữa lớn: là công việc sửa chữa tiến hành khi có hư hỏng hoặc xuống cấp ở nhiều bộ phận công trình nhằm khôi phục chất lượng ban đầu của công trình. - Sửa chữa đột xuất: là công việc sửa chữa công trình đường bộ chịu các tác động đột xuất như gió bão, lũ lụt, động đất, va đập, cháy hoặc những tác động đột xuất khác đã dẫn tới những hư hỏng, xuống cấp cần được sửa chữa kịp thời để đảm bảo giao thông liên tục. Sửa chữa đột xuất được chia làm hai bước như sau : + Bước 1: Thực hiện sửa chữa khôi phục đường bộ khẩn cấp, đảm bảo thông xe nhanh nhất và hạn chế thiệt hại công trình đường bộ.
Bước 1 được thực hiện đồng thời vừa xử lý, vừa lập hồ sơ để hoàn thiện thủ tục làm cơ sở thanh quyết toán. + Bước 2: Xử lý tiếp theo Bước 1, nhằm khôi phục đường bộ theo quy mô, tiêu chuẩn kỹ thuật như trước khi xảy ra sự cố hoặc bền vững hóa, kiên cố hóa công trình. Bước 2 được thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định như đối với công trình xây dựng cơ bản. Sự cần thiết phải bảo trì công trình xây dựng đường bộ Công trình xây dựng sau khi đưa vào khai thác và trong suốt quá trình khai thác sử dụng dưới tác động của tải trọng, sự khai thác sử dụng của con người, tác động của các yếu tố môi trường xung quanh và khí hậu dẫn đến xuống cấp, hư hỏng.
Để hạn chế sự xuống cấp, hư hỏng và nhằm kéo dài thời gian khai thác sử dụng cần phải bảo trì công trình xây dựng trong thời gian khai thác sử dụng. Đường bộ sau khi đưa vào khai thác sử dụng dưới tác động của bánh xe, thời tiết, môi trường thì trên mặt đường độ nhám không còn đảm bảo, vết nứt, vết hằn lún xuất hiện, quá trình lão hóa kết cấu mặt đường xảy ra nếu không bảo trì dẫn đến hư hỏng làm cho quá trình khai thác sử dụng không an toàn.3: Tại sao phải bảo trì 7 Hậu quả của việc không bảo trì kịp thời: - Tình trạng giao thông kém an toàn do việc hư hỏng cầu, đường. - Hư hỏng cầu đường ảnh hưởng đến vận tải và phát triển kinh tế - xã hội. - Nguy cơ sự cố sập đổ công trình cầu, cống và các công trình nhân tạo khác sẽ dẫn đến thiệt hại về vật chất, ảnh hưởng đến an toàn xung quanh, thậm chí ảnh hưởng đến tính mạng con người.
- Giảm tuổi thọ công trình do không được sửa chữa kịp thời. Trách nhiệm của các tổ chức, đơn vị trong bảo trì công trình đường bộ Tham gia vào công tác bảo trì công trình đường bộ gồm 2 nhóm là chủ sơ hữu công trình và nhóm các tổ chức, đơn vị quản lý, sử dụng công trình, với cương vị của mình mỗi chủ thể có vai trò và trách nhiệm khác nhau, có thể ra là [15]: Hình 1.4: Các đơn vị có trách nhiệm trong bảo trì công trình đường bộ Chủ sở hữu hoặc người quản lý sử dụng công trình có trách nhiệm bảo trì công trình xây dựng, máy, thiết bị công trình (khoản 2 điều 126 Luật Xây dựng 2014) [17]0 Chủ sở hữu công trình là cá nhân, tổ chức có quyền sở hữu công trình theo quy định của pháp luật [7] (khoản 18 điều 3 Nghị định 46). Như vậy công trình BOT thì nhà đầu tư là chủ sở hữu. Công trình sử dụng vốn nhà nước để đầu tư xây dựng thì chủ sử hữu là Nhà nước.
Người quản lý, sử dụng công trình là chủ sở hữu trong trường hợp chủ sở hữu trực tiếp quản lý, sử dụng công trình hoặc là người được được chủ sở hữu công 8 trình ủy quyền quản lý, sử dụng công trình trong trường hợp chủ sở hữu không trực tiếp quản lý, sử dụng công trình (khoản 19 điều 3 Nghị định 46). Như vậy đối với công trình BOT và công trình dự án PPP khác thì người quản lý, sử dụng công trình là Doanh nghiệp dự án BOT, Doanh nghiệp PPP. Đối với công trình đường bộ của Nhà nước thì người quản lý, sử dụng công trình trên hệ thống quốc lộ, đường cao tốc đầu tư bằng vốn ngân sách Nhà nước là Tổng cục ĐBVN, các Cục Quản lý Đường bộ, Cục Quản lý Đường bộ Cao tốc và Sở GTVT nhận ủy thác (theo quy định tại điều 3 nghị định 10/2013/NĐ-CP về Quản lý, khai thác sử dụng kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ và Quyết định số 60/2013/QĐ-TTg ngày 21/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng nhiệm vụ Tổng cục ĐBVN). Trường hợp của VEC thì đó là Công ty Quản lý Khai thác đường cao tốc VEC-OM.
Đối với công trình đường bộ do chính quyền địa phương thì người quản lý là các cơ quan đường bộ của địa phương theo quy định của pháp luật đường bộ gồm Sở GTVT, UBND cấp huyện (đối với đường huyện, đường đô thị của cấp huyện, thị xã), UBND cấp xã đối với đường xã và đường khác do UBND cấp tỉnh phân cấp. Ngoài các cơ quan nêu trên không có cơ quan nào là cơ quan được giao quản lý, sử dụng đường bộ. Như vậy Ban quan lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành, Ban quàn lý dự án đầu tư khu vực là cơ quan, đơn vị sự nghiệp không có chức năng quản lý, sử dụng đường bộ. Do đó Ban quản lý dự án không thể làm chủ đầu tư công tác bảo trì được.