Chương 1: Lý luận chung về phương thức khoán trong kinh doanh tại ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng phương thức khoán trong kinh doanh tại NH TMCP Đại Dương Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện phương thức khoán trong kinh doanh tại NH TMCP Đại Dương 5 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHƢƠNG THỨC KHOÁN TRONG KINH DOANH TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Đặc điểm kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại 1. Đặc điểm lĩnh vực và sản phẩm kinh doanh của ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại đã hình thành tồn tại và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá. Sự phát triển hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trường thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được.
Thông qua hoạt động tín dụng thì ngân hàng thương mại tạo lợi ích cho người gửi tiền, người vay tiền và cho cả ngân hàng thông qua chênh lệch lãi suất mà thu được lợi nhuận cho ngân hàng. Ở Việt Nam, theo Luật các tổ chức tín dụng công bố ngày 26/12/1997 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều luật các tổ chức tín dụng có hiệu lực thi hành ngày 01/10/2004, ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng thực hiện hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán, và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế, hoạt động của NHTM cũng từng bước được củng cố và hoàn thiện, chuyển hoá dần theo hướng đa năng. Theo Luật các Tổ chức Tín dụng, nhà lập pháp định nghĩa rằng “Hoạt động Ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán”.
Như vậy, ngân hàng là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh về tiền tệ với hoạt động thường xuyên là huy động vốn, cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, cung cấp các dịch vụ tài chính và các hoạt động khác có liên quan. 6 Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại. Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn. Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia gồm người gửi tiền và người đi vay.
Chức năng trung gian thanh toán, NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng. Chức năng này vô hình chung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế. Chức năng tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của NHTM.
Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế. Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán. Ngân hàng thương mại là các doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ khác liên quan đến tiền tệ. Ngân hàng thương mại là các doanh nghiệp vay mượn, huy động tiền tệ từ các chủ thể đang nắm giữ tiền tạm thời chưa dùng tới để rồi dùng tiền đó cho vay, đầu tư vào những lĩnh vực nhà nước cho phép.
Đây là đặc điểm cơ bản nhất để phân biệt lĩnh vực kinh doanh ngân hàng với các lĩnh vực kinh doanh khác. Tuy nhiên các ngân hàng ngày càng phải hoạt động trong sự cạnh tranh gay gắt nên sản phẩm và phương thức kinh doanh của ngân hàng cũng có sự thay đổi, theo đó, sản phẩm của ngân hàng còn bao gồm các dịch vụ khác như dịch vụ về tài chính, về thông tin, kế toán. 7 Như vậy, căn cứ vào khái niệm trên thì hoạt động của NHTM có thể được nhận dạng thông qua một số đặc điểm sau: Thứ nhất, hoạt động NHTM là loại hình kinh doanh với mục đích kiếm lời, bao gồm hai hình thức chủ yếu là kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng. Trong đó, hoạt động kinh doanh tiền tệ được biểu hiện ở nghiệp vụ huy động vốn dưới các hình thức khác nhau để cấp tín dụng cho khách hàng có nhu cầu về vốn với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận.
Còn hoạt động dịch vụ ngân hàng được biểu hiện thông qua các nghiệp vụ sẵn có về tiền tệ, thanh toán, ngoại hối và chứng khoán để cam kết thực hiện công việc nhất định cho khách hàng trong một thời hạn nhất định nhằm mục đích thụ hưởng tiền công dịch vụ do khách hàng chi trả dưới dạng phí hay hoa hồng. Thứ hai, hoạt động NHTM là loại hình hoạt động kinh doanh có điều kiện, nghĩa là chỉ khi nào NHTM thoả mãn đầy đủ những điều kiện khắt khe do pháp luật quy định (vốn pháp định, phương án kinh doanh.) thì mới được phép hoạt động trên thị trường. Thứ ba, hoạt động NHTM là loại hình kinh doanh có độ rủi ro cao hơn nhiều so với các loại hình kinh doanh khác và thường có ảnh hưởng sâu sắc, mang tính chất dây chuyền đối với nền kinh tế. Các NHTM phải tiến hành huy động vốn của người khác để cấp tín dụng cho khách hàng và trên nguyên tắc NHTM chỉ có thể đòi tiền của người vay sau một thời hạn nhất định đã tạo ra khả năng rủi ro cao cho hoạt động ngân hàng kéo theo đó là sự rủi ro đối với người gửi tiền ở NHTM, cũng như rủi ro đối với nền kinh tế.
Vì vậy, hoạt động ngân hàng ở nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới thường được điều chỉnh và kiểm soát hết sức chặt chẽ bằng những luật riêng biệt, nhằm đảm bảo cho hoạt động này được vận hành an toàn và hiệu quả trong nền kinh tế thị trường. Đặc điểm tổ chức hệ thống kinh doanh Ngân hàng thương mại được phân loại theo hình thức sở hữu thì bao gồm NH Nhà nước, quốc doanh, cổ phần, liên doanh, chi nhánh NHTM nước ngoài và kể từ ngày 1/4/2007 cấp giấy phép cho NHTM nước ngoài hoạt động. Xét theo loại hình kinh doanh thì NHTM gồm có NHTM bán buôn, bán lẻ hoặc vừa bán buôn vừa bán 8 lẻ. Nếu phân loại theo đối tượng kinh doanh chia thành ngân hàng hội sở, chi nhánh (cấp 1, cấp 2), phòng giao dịch.
Thông thường, hệ thống của một ngân hàng thường bao gồm các cấp hội sở chính, sở giao dịch và các chi nhánh, các phòng giao dịch, quỹ tiết kiệm trực thuộc sở giao dịch, các chi nhánh. Luật các tổ chức tín dụng 2010 mới chỉ đề cập rằng các ngân hàng thương mại được phép thành lập các chi nhánh, văn phòng đại diện, các đơn vị sự nghiệp ở trong nước, chi nhánh, văn phòng đại diện, hay các hình thức hiện diện khác ở nước ngoài. Hội đồng quản trị (HĐQT) là bộ máy quyền lực cao nhất của NHTM, mọi hoạt động của ngân hàng đều đặt dưới quyền quản trị của HĐQT. Đối với NHTM Nhà nước thì toàn bộ thành viên của HĐQT do Chính phủ quyết định bổ nhiệm hoặc chính phủ ủy nhiệm cho Thống đốc ngân hàng nhà nước quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm sau khi có thoả thuận với ban tổ chức – cán bộ chính phủ.
Nhiệm kỳ của HĐQT là 5 năm, thành viên HĐQT từ 5-7 người. Đối với NH TMCP thì HĐQT do đại diện cổ đông bầu ra, thành viên 3-11 người, nhiệm kỳ 2-5 năm. Bộ máy quan trọng thứ hai là ban điều hành với nhiệm vụ điều hành hoạt động đặt dưới quyền của tổng giám đốc hoặc giám đốc. Đối với NHTM khác thì tổng giám đốc, các phó tổng giám đốc do HĐQT bổ nhiệm và được Thống đốc chuẩn y.
Cơ cấu quan hệ tổ chức của NHTM gồm có hội đồng quản trị, ban kiểm soát, ban tổng giám đốc (ban khối, hội sở, phòng chức năng, chi nhánh). Ban điều hành nắm quyền điều hành hoạt động của ngân hàng đặt dưới quyền của tổng giám đốc hoặc giám đốc. Hội đồng Quản trị phải tham gia vào việc phê chuẩn chiến lược của ngân hàng một cách phù hợp. Trách nhiệm trong ngân hàng phải được phân định rõ ràng và thực thi thống nhất trong toàn tổ chức.
Chính sách lương thưởng phải phù hợp với mục tiêu lâu dài của ngân hàng. Những rủi ro phát sinh do hoạt động thiếu minh bạch cần được quản lý thỏa đáng. Hội đồng Quản trị cần chủ động thực thi trách nhiệm chung đối với ngân hàng, bao gồm chiến lược kinh doanh và rủi ro, tổ chức, sự vững mạnh về tài chính và quản trị của ngân hàng. Để hoàn thành trách nhiệm này, Hội đồng Quản trị phải thực hiện đánh giá khách quan có cơ sở, đồng thời đảm bảo rằng từng cá nhân cũng như cả Hội đồng luôn luôn có trình độ và năng lực phù hợp; Áp dụng những thông lệ quản trị tốt trong hoạt động của bản thân Hội đồng; 9 Được hỗ trợ bởi các bộ phận quản lý rủi ro và giám sát có năng lực, vững mạnh và độc lập để đảm bảo việc giám sát hiệu quả.
Ban Giám đốc dưới sự chỉ đạo của Hội đồng Quản trị, Ban Giám đốc cần đảm bảo hoạt động của ngân hàng phù hợp với chiến lược kinh doanh, mức độ chấp nhận rủi ro và chính sách quản lý rủi ro mà Hội đồng phê duyệt.