đặt vấn đề về vị trí và mối quan hệ giữa các sắc thuế trong hệ thống thuế thống nhất. Điều quan trọng là chúng tôi rút ra từ những lập luận này là phải chăng chúng ta có thể lợi dụng những mối liên hệ nội tại giữa những sắc thuế để xác định chính xác và kiểm tra tính đúng đắn của giá tính thuế nhập khẩu. Thật vậy, vì trong đa số các trƣờng hợp, nhập khẩu chỉ là khâu đầu tiên của một quá trình kinh doanh nên khi các hoạt động kinh doanh sản xuất đƣợc tiến hành trong nội địa cho chúng ta cơ hội đƣợc tìm kiếm những bằng chứng xác thực về giá trị thật sự của hàng hoá nhập khẩu. Thông thƣờng khi nhập khẩu, ngƣời nhập khẩu có xu hƣớng khai không đúng số lƣợng, chất lƣợng, trị giá hàng hoá để giảm thiểu 11 z thuế nhập khẩu.
Nhƣng đến khi bán hàng, khi hạch toán kinh doanh, chủ hàng buộc phải tính đúng các chi phí đầu vào để giảm số thuế phải nộp trong nội địa. Trị giá tính thuế nhập khẩu chỉ liên quan và phụ thuộc vào hàng hoá nhập khẩu. Bởi vậy, khi làm rõ khái niệm trị giá tính thuế nhập khẩu đặt ra việc xem xét nội dung của vấn đề hàng hoá nhập khẩu. Thứ nhất, đặc tính nhập khẩu của hàng hoá.
Hàng hoá đƣợc coi là nhập khẩu nếu nó đƣợc đƣa từ một quốc gia khác đến quốc gia tiếp nhận hàng hoá (trong trƣờng hợp hàng hoá từ khu chế xuất vào tiêu thụ trong nƣớc cũng đƣợc coi là nhập khẩu). Xác định chính xác không gian và thời gian của hành vi nhập khẩu có ý nghĩa thực tế cho việc xác định trị giá nhập khẩu. Không gian và thời điểm nhập khẩu tác động tới việc tính toán chi phí phát sinh của hàng hoá nhƣ phí vận chuyển, kho bãi, bảo hiểm, tỷ giá. Thực tiễn pháp lý quốc tế cho thấy, có sự không thống nhất về cách hiểu hành vi nhập khẩu.
Chẳng hạn, theo luật hải quan 1995 của Cộng hoà Indonexia thì nhập khẩu là các hoạt động đƣa hàng hoá vào lãnh thổ hải quan, trong đó lãnh thổ hải quan đƣợc hiểu là vùng đất, vùng trời, vùng nƣớc, các địa điểm đặc biệt trong các vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Trong khi đó ở Philippin điều 102 của Bộ luật hải quan xác định công việc nhập khẩu bắt đầu khi tầu thuyền, máy bay, vận tải hàng hoá bắt đầu vào khu vực thẩm quyền để dỡ hàng xuống đó [17]. Ở Việt nam, Luật hải quan 2001 - đạo luật điều chỉnh trực tiếp các quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu – không đƣa ra một định nghĩa chính thức về hành vi nhập khẩu. Vì vậy, có những biểu hiện không logic trong việc xác định trị giá nhập khẩu.
Khảo sát các quy định của Luật này cho thấy, nhập khẩu không phải là cơ sở cho việc xác định trị giá tính thuế nhập khẩu mà ngƣợc lại, việc xác định trị giá tính thuế là căn cứ cho việc nhập khẩu. Thật vậy, điều 4 Luật hải quan quy định thông quan là việc cơ quan hải quan quyết định hàng hoá đƣợc nhập khẩu; việc thông quan đƣợc tiến hành sau khi hàng hoá đã làm thủ tục hải quan trong đó nộp thuế và các nghĩa vụ tài chính khác là một nội dung của thủ tục hải quan. 12 z Từ góc độ quản lý nhà nƣớc về hải quan dễ dàng giải thích các quy định nêu trên. Vì vậy, dƣới góc độ điều chỉnh trị giá tính thuế nhập khẩu, việc tách rời không gian và thời gian giá nhập khẩu khỏi hành vi nhập khẩu, trong thời gian dài sẽ đƣa lại nhiều bất lợi khi xây dựng và thực thi các chính sách có liên quan.
Bởi vì, chúng ta sẽ không thể thiết kế một hệ thống phƣơng pháp định giá toàn diện nếu không có sự phân biệt giữa hàng nhập khẩu để bán với hàng là quà biếu, hàng mẫu, hàng ký gửi, thuê, mƣợn hay vay. Mục đích nhập khẩu của hàng hoá. Mục đích nhập khẩu của hàng hoá thể hiện ý định sử dụng hàng hoá của bên nhập khẩu và bên xuất khẩu. Mục đích nhập khẩu rất đa dạng: Thƣơng mại, quá cảnh, hành lý theo ngƣời, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập … Tuy không phải là cơ sở cơ bản để xác định thuế nhập khẩu nhƣng mục đích nhập khẩu cũng có ý nghĩa nhất định trong việc lựa chọn phƣơng pháp định giá nhập khẩu.
Rõ ràng là hàng hoá nhập khẩu phi mậu dịch không dựa trên các giao dịch mua bán nên phƣơng pháp định giá sẽ không thể dựa vào giá cả thƣơng mại của hàng hoá. Trị giá tính thuế nhập khẩu xác định căn cứ vào trị giá của hàng hoá nhập khẩu. Trong mối liên hệ phân tích khái niệm trị giá tính thuế nhập khẩu, chúng ta chỉ xem xét trị giá của hàng nhập khẩu theo ba nội dung sau: Thứ nhất, đánh giá chủ quan và khách quan trị giá hàng nhập khẩu. Về mặt chủ quan, trị giá hàng nhập khẩu phản ánh phần trị giá của hàng nhập khẩu đƣợc hải quan thừa nhận, xoay quanh giá trị trung bình của hàng hoá trên thị trƣờng.
Cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền thu thuế thƣờng có xu hƣớng xác định thuế nhập khẩu theo trị giá chủ quan này vì nó tạo ra một căn cứ tính thuế loại bỏ đƣợc những giả định về mối liên hệ bên trong giữa ngƣời xuất khẩu và ngƣời nhập khẩu cũng nhƣ tác động bên ngoài (phạm vi, thời điểm bán hàng hoặc thủ đoạn kinh doanh) làm biến dạng giá trị thực tế của hàng hoá. Về mặt khách quan, trị giá của hàng hoá nhập khẩu phản ánh một mức giá giao dịch cụ thể giữa ngƣời nhập khẩu và ngƣời xuất khẩu. Về nguyên tắc, ngƣời nhập khẩu có xu 13 z hƣớng sử dụng trị giá khách quan vì nó phản ánh trực tiếp chi phí mà họ đã bỏ ra để có hàng hoá. Thực chất tính hai mặt khách quan-chủ quan của giá trị hàng hoá nhập khẩu là mối quan hệ giữa giá thị trƣờng với giá trị cá biệt, giữa lao động xã hội với lao động tƣ nhân, giữa lao động trừu tƣợng với lao động cụ thể.
Thứ hai, trị giá thuế nhập khẩu là kết quả của quá trình định giá hàng hoá nhập khẩu. Định giá là một thủ tục do các bên liên quan (hải quan, ngƣời nhập khẩu) áp dụng nhằm xác định trị giá của hàng nhập khẩu. Nhƣ là hệ quả của tính hai mặt nêu trong trị giá hàng nhập khẩu. Chẳng hạn nhƣ định giá hàng nhập khẩu theo giá hàng sẽ đƣợc tiêu thụ trong nội địa hoặc theo giá phản ánh trong quan hệ thanh toán giữa ngƣời xuất khẩu và ngƣời nhập khẩu.
Việc lựa chọn phƣơng pháp định giá tuỳ thuộc vào mục đích quản lý xuất nhập khẩu của từng quốc gia. Tuy nhiên, xu hƣớng hội tụ các phƣơng pháp xác định giá giữa các quốc gia ngày càng đƣợc khẳng định rõ nét thông qua quá trình tự do hoá thƣơng mại toàn cầu. Mặt khác, việc định giá cũng xác lập trình tự thủ tục, các quyền và nghĩa vụ của các cơ quan thuế và ngƣời nhập khẩu. Các trình tự và thủ tục định giá xét về tính chất là các quan hệ hành chính.
Mặc dù chỉ là những quan hệ hình thức nhƣng chính những thủ tục này khai đƣợc quy định hợp lý sẽ là cơ sở để xác định đúng đắn giá nhập khẩu, bảo đảm đƣợc quan hệ bình đẳng và dân chủ giữa ngƣời nhập khẩu và cơ quan hải quan. Thứ ba, khi phân tích nội dung trị giá tính thuế hàng nhập khẩu cần phân biệt với khái niệm giá trị và giá cả. Có thể phân biệt ba khái niệm này qua mô tả đơn giản sau: Giá trị phản ánh chi phí lao động trung bình của nhà sản xuất thì giá cả phản ánh mối quan hệ giữa ngƣời nhập khẩu và ngƣời xuất khẩu trong điều kiện của quá trình mua bán trao đổi hàng hoá cụ thể; trị giá tính thuế nhập khẩu phản ánh mối quan hệ giữa ngƣời nhập khẩu với cơ quan hải quan trong quá trình nhập khẩu hàng hoá. Trị giá tính thuế nhập khẩu không đồng nhất với giá trên hợp đồng được ký kết giữa người nhập khẩu và người xuất khẩu.
14 z Hợp đồng chỉ là một yếu tố cần xem xét đến bên cạnh những căn cứ, dữ liệu khác. Có hai vấn đề cần lƣu ý ở đây: Thứ nhất, trị giá tính thuế nhập khẩu phải đƣợc chứng minh bằng hệ thống các căn cứ, dữ liệu khách quan. Các dữ liệu này thông thƣờng tồn tại dƣới hình thức hợp đồng mua bán ngoại thƣơng, báo giá, hoá đơn thƣơng mại hoặc các loại chứng từ khác. Ngƣời nhập khẩu có trách nhiệm cung cấp dữ liệu này.
Tiêu chuẩn khách quan trƣớc hết đòi hỏi bộ hoá đơn chứng từ phải đƣợc lập và xuất trình phù hợp với yêu cầu của pháp luật và thông lệ tập quán quốc tế đƣợc thừa nhận. Tính khách quan của tài liệu còn thể hiện ở tính có thể kiểm tra của bên thứ ba đối với nội dung đƣợc thể hiện trên tài liệu. Nói tóm lại, khi đảm bảo đƣợc tính khách quan, ngƣời nhập khẩu có thể sử dụng bất kỳ tài liệu nào để chứng minh trị giá của hàng nhập khẩu. Thứ hai, cơ quan hải quan có quyền yêu cầu ngƣời nhập khẩu phải chứng minh về tính chính xác, trung thực của bất kỳ một tài liệu, một chứng từ hoặc một tờ khai nào mà chủ hàng đã xuất trình cho hải quan.
Nhƣ vậy, khi đánh giá tính khách quan của tài liệu nhằm xác định trị giá tính thế, hải quan có quyền đòi hỏi sự hợp tác toàn diện của ngƣời nhập khẩu. Từ những dẫn giải trên đây trị giá tính thuế nhập khẩu đƣợc khái niệm nhƣ sau: Trị giá tính thuế nhập khẩu là một căn cứ tính thuế nhập khẩu dựa trên cơ sở trị giá giao dịch của hàng hoá nhập khẩu phù hợp với những dữ liệu khách quan, khoa học được đối tượng nộp thuế và cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu thuế xác định và chấp nhận 1.2 Khái niệm pháp luật trị giá tính thuế nhập khẩu Trị giá tính thuế nhập khẩu là một quan hệ xã hội tƣơng đối phức tạp và đặc thù. Quan hệ này chịu sự tác động trực tiếp của các yếu tố kinh tế đa dạng không chỉ các yếu tố kinh tế vi mô nhƣ giá cả trong những giao dịch cụ thể mà còn cả các yếu tố kinh tế vĩ mô nhƣ tỷ giá hối đoái, mức độ điều tiết của thuế quan. Các 15 z yếu tố này đã làm cho mối quan hệ lợi ích giữa các chủ thể trong mối quan hệ càng trở nên phức tạp.
Mục đích của quan hệ buôn bán ngoại thƣơng là xuất và nhập khẩu hàng hoá.